Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon 2019 cho tỉnh Bình Phước

Cuộc thi nhằm kích hoạt sự sáng tạo, đam mê công nghệ của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.

Dự án điện mặt trời 30.7MWp tại Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột là một trong những địa điểm có bức xạ mặt trời tương đối tốt tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiệt độ trung bình tương đối thấp ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất của hệ thông pin quang điện.

Cuộc thi Shell Eco_marathon Europe tại London

Cuộc thi Shell eco_marathon tại London là một cuộc thi thiết kế xe tiết kiệm nhiên liệu dành cho học sinh, viên viên lớn nhất thế giới.

Tham gia khóa tập huấn tại Phần Lan

Khóa học phương pháp sư phạm số nằm trong khuôn khổ dự án EMVITET.

Tham gia tập huấn giáo dục 4.0 tại Phần Lan

Phần Lan là một đất nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2022

PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ & CẢI TIẾN LIÊN TỤC TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC


A. Giới thiệu
Nhu cầu của khách hàng (trong trường hợp này là người học), người quản lý yêu cầu càng cao về chất lượng cũng như mức độ hiệu quả của công việc. Tuy nhiên quá trình quản lý lỏng lẻo sẽ phát sinh nhiều vấn đề dẫn đến lãng phí về nguồn lực và các nghiên cứu về chuỗi giá trị cho thấy cần phải thay đổi cách quản lý. Giáo dục cũng không nằm ngoài chuỗi giá trị này cần phải thay đổi để không lãng phí nguồn lực. Giải pháp này đề xuất sự dụng công cụ PDCA (Plan, do, check, act) và công cụ số theo dõi, phân công, quản lý và cải tiến công việc. Giải pháp mà tôi giới thiệu đạt giải 3 cấp tính trong cuộc thi "Phát huy sáng kiến, sáng tạo trong lao động và học tập " Tỉnh Đồng Nai.


                                                         Hình 1.  Nhận giải thưởng cấp tỉnh

Giải pháp đăng trên kỷ yếu của tỉnh
                                                                     Hình 2. Kỷ yếu chương trình
  
B. Nội dung của giải pháp

1. Định nghĩa quy trình PDCA 
PDCA là một phương pháp quản lý bốn bước lặp đi lặp lại được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau hay còn gọi là chu trình cải tiến liên tục. Nội dung các giai đoạn của chu trình được giải thích cụ thể như sau: Plan (lập kế hoạch): Lập kế hoạch, ở bước này cần phải xác định mục tiêu, nguồn lực, mốc thời gian thực hiện và phương pháp để đạt được mục tiêu mong muốn. Do (thực hiện kế hoạch): Thưc hiện kế hoạch, triển khai chi tiết kế hoạch đã đưa ra. Check (kiểm tra): Dựa vào kết quả báo cáo công việc so sánh với mục tiêu để kiểm tra và đánh giá kết quả. ACT (hành động): Thông qua các kết quả đánh giá thu được sẽ có những tác động thích hợp để điều chỉnh nhằm bắt đầu lại chu trình mới với số liệu đầu vào mới. Quá trình thực hiện PDCA được trình bày như hình 1. Theo hình 1 mỗi cơ sở giáo dục đều có mục tiêu chiến lược. Từ các mục tiêu chiến lược thiết đặt tiêu chuẩn và chỉ số sau đó tiến hành chu trình lặp đi lặp lại theo PDCA sẽ cải tiến các tiêu chuẩn theo thời gian.
                                                           Hình .1 Quá trình thực hiện PDCA
 
2 .Vận dụng quy trình PDCA trong cơ sở giáo dục `
 Đối với cơ sở giáo dục để vận hành theo quy trình PDCA trước tiên cần phải xác định được mục tiêu chiến lược ngắn, trung và dài hạn, dựa trên các mục tiêu chiến lược tiến hành phân tích SWOT, Pareto để tìm ra các phương án hoàn thành mục tiêu. Sau khi có các chỉ số và phương án hoàn thành mục tiêu tiến hành xây dựng ma trận các hành động theo mô hình thác đổ và KPI (Chỉ số đo lường mức độ hoàn thành công việc) cho từng hành động như vậy là hoàn thành bước Plan (Lập kế hoạch). Kế đến là bước Do (hành động) triển khai các công việc cụ thể đến các đơn vị, ở bước này cần thiết lập công cụ theo dõi giám sát và thu thập dữ liệu về kết quả công việc. 

Sau khi kết thúc công việc cần đánh giá kết quả của công việc thông qua các số liệu thu thập tiến hành phân tích đối sánh để tìm ra những điểm mạnh cần phát huy và điểm yếu cần cải tiến. Cuối cùng là từ các kết quả đánh giá đưa ra những thay đổi mang tính hệ thống để bắt đầu chu kỳ tiếp theo. 

3 .Triển khai tại Đại Học Lạc Hồng 
a. Cấp độ nhà Trường Đối với cấp trường ở bước lập kế hoạch (Plan) căn cứ vào mục tiêu chiến lược của nhà Trường, ban chiến lược đã phân tích và xây dựng mô hình chiến lược theo mô hình thác đổ.  Mô hình thác đổ được chia làm năm cấp độ từ tầm nhìn đến mục tiêu chiến lược và các hành động cụ thể để đạt được mục tiêu chiến lược trong gian đoạn ngắn và trung hạn. Ở bước kế tiếp là bước thực thi kế hoạch (do) các đơn vị căn cứ vào các hành động được giao tiến hành thực thi công việc. Kết quả công việc được đánh giá và phân tích theo quy trình PDCA.
 b. Cấp độ Phòng ban Căn cứ vào mục tiêu của nhà trường và các chỉ số cần phải đạt được giao các phòng ban lập kế hoạch và thực thi bao gồm nguồn lực mốc thời gian và phương án hoàn thành mục tiêu. Một ví dụ tại phòng Đảm Bảo Chất lượng các đầu việc được số hóa và theo dõi phân tích trực tuyến như hình 2. 



                                               Hình 2. Bảng theo dõi tiến độ các công việc 

Kết thúc năm học sẽ tổng kết, đánh giá dựa trên số liệu, các chỉ số đạt được và phản hồi của các bên liên quan đưa ra kế hoạch hành động trong năm học tiếp theo. 
Ví dụ cụ thể: Trong năm học phòng ĐBCL tổ chức các đợt khảo sát sinh viên, giảng viên. Đến cuối năm học sẽ phân tích số liệu người tham gia khảo sát trên tổng số mẫu, phản hồi các câu trả lời mở, điểm đánh giá. Sau khi có kết quả phân tích tiến hành họp cùng các Khoa để thống nhất phương án cải tiến. 
c. Cấp độ giảng viên
 Đối với giảng viên, quá trình cải tiến sẽ xoay quanh hoạt động dạy và học. Để cải tiến chất lượng dạy và học cần nhiều yếu tố như là phản hồi của sinh viên thông qua các phiếu khảo sát kết thúc môn, phản hồi của đanh nghiệp thông qua các hội thảo giữa Khoa và doanh nghiệp. Tuy nhiên quá trình cải tiến liên tục môn học là rất là quan trọng và được áp dụng thường xuyên và liên tục. Giảng viên sẽ chủ động lấy số liệu để đánh giá cải tiến là sau khi sinh viên kết thúc kỳ thi cuối kỳ hoặc kiểm tra 30% (giữa kỳ). Đối với kết quả đánh giá 60% (cuối kỳ) giảng viên thu thập số liệu trong lúc giảng viên chấm bài thi.  Cụ thể các bước đượ trình bày như hình 3.


                                               Hình 3. Các bước thực hiện cải tiến môn học

4. Kết luận
. Quá trình cải tiến liên tục ứng dụng phương pháp PDCA được ứng dụng rộng rãi đa lĩnh vực. Kết quả của các quá trình phân tích  nâng cao hiệu quả trong quản lý. 

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

Nguyên tắc thiết kế bài giảng đa phương tiện

Trong thập kỷ gần đây với các tiến bộ về khoa học công nghệ, có rất nhiều nhà Khoa học nghiên cứu phương pháp giáo dục đa phương tiện. Một trong những lý thuyết quang trọng trong thiết kế các bài giảng đa phương tiện là lý thuyết của Mayer [1].

1. Giả thuyết của lý thuyết nhận thức về đa phương tiện:

Giả Thuyết

Mô tả

Kênh kép

Con người có các kênh riêng biệt cho xử lý thông tin thị giác và thính giác

Hạn chế năng lực

Con người bị giới hạn về số lượng thông tin có thể được xử lý trong mỗi kênh cùng một lúc

Xử lý tích cực

Con người tham gia vào việc học tập tích cực bằng cách xử lý các thông tin được tiếp nhận, thông tin được chọn lọc sau đó liên kết với những thông tin được tiếp nhận trước đó để nhận biêt kiến thức

Giả thuyết 1: Con người sở hữu thông tin riêng biệt các kênh xử lý cho tài liệu được trình bày trực quan  (không gian và thính giác ) tài liệu  bằng lời nói. Mức độ phù hợp của giả định kênh kép lý thuyết nhận thức về học đa phương tiện nằm trong đề xuất rằng hệ thống xử lý thông tin của con người chứa một kênh thính giác ( lời nói) và một kênh hình ảnh (hình ảnh). Khi thông tin được trình bày trước mắt (chẳng hạn như hình minh họa, hoạt ảnh, video hoặc văn bản trên màn hình), con người bắt đầu bằng cách xử lý thông tin đó trong kênh trực quan; khi thông tin được đưa vào tai (chẳng hạn như tường thuật hoặc âm thanh không lời), con người bắt đầu bằng cách xử lý thông tin đó trong kênh thính giác. 

Giả thuyết 2: Con người bị giới hạn về số lượng thông tin có thể được xử lý trong mỗi kênh tại một thời điểm. Khi một minh họa hoặc hình ảnh động được trình bày, người học chỉ có thể giữ một vài hình ảnh trong kênh trực quan của bộ nhớ làm việc tại bất kỳ thời điểm nào.

Giả thuyết thứ ba :Con người tích cực tham gia vào quá trình xử lý nhận thức để xây dựng kiến thức nhất quán về trải nghiệm của họ. Các quá trình nhận thức tích cực này bao gồm chú ý đến thông tin tiếp nhận có liên quan, tổ chức thông tin tiếp nhận thành một nhận thức mạch lạc cấu trúc và tích hợp thông tin tiếp nhận với các kiến ​​thức khác.  Quan điểm này coi con người là bộ xử lý tích cực kết hợp với quan điểm xem con người là bộ xử lý thụ động tìm cách thêm càng nhiều thông tin vào bộ nhớ càng tốt, nghĩa là con người như là máy ghi âm, các bản sao của trải nghiệm của con người được lưu vào  bộ nhớ để được truy xuất sau này.


Hình 1. Mô hình học tập đa phương tiện của Mayer [2]

Dựa trên các giả thuyết và các phân tích về nhận thức của não bộ Mayer đã đưa ra các nguyên tắc thiết kế bài giảng đa phương tiện được trình bày ở mục 2.

2. Các nguyên tắc thiết kế bài giảng đa phương tiện:

Giảm tải: Trí nhớ ngắn hạn của con người chỉ thực sự hoạt động tích cực trong khoảng thời gian ngắn từ 03 đến 05 phút.  Do đó  khi lượng thông tin  trong một khoảng thời gian ngắn quá nhiều mà không liên quan đến chủ đề của bài học sẽ làm cho não bộ khó tiếp thu. Theo đó, con người thực sự tiếp thu bài học một cách hiệu quả khi những từ ngữ, hình ảnh, âm thanh tạp không liên quan đến bài học được loại bỏ, các chữ và hình ảnh tương ứng được trình bày gần nhau và được đánh dấu những thông tin quang trọng.

Kiểm soát mức độ khó: Mayer cũng chỉ ra rằng bài học đa phương tiện cần được phân đoạn để phù hợp với nhịp độ của người học, những lý thuyết thiên về mức nhớ hoặc hiểu ( Các khái niệm, nguyến lý) người học được tìm hiểu trước. Người học sẽ học tốt hơn khi bài giảng đa phương tiên được thiết kế đồ họa và diễn giải bằng lời thay vì đồ họa và văn bản trên màn hình, các kênh chữ và đồ họa được kết hợp với nhau thay vì kênh chữ và kênh đồ họa riêng lẽ.

Tăng thông tin: Tăng những thông tin làm cho người học hiểu được vấn đề cần học. Theo đó, Mayer đã đưa ra những nguyên tắc tăng thông tin như là: Nguyên tắc giọng nói (Không nên sử dụng giọng nói không phải của con người), nguyên tắc cá nhân hóa, nguyên tắc phản hồi và nguyên tắc tự ngẫm

Theo tôi, khi thiết kế bài giảng đa phương tiện dựa trên những nguyên tắc của Mayer sẽ làm tăng sự hứng thú của người học. Các bài giảng đa phương tiện trở nên ngắn gọn, dễ hiểu và đi vào trọng tâm của vấn đề.  Việc phân đoạn và cá nhân hóa sẽ khuyến khích người học tích cực tham gia vào các bài giảng đa phương tiện bởi vì các bài giảng được phân đoạn thành những đoạn ngắn người học tự lựa chọn các bài giảng phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu cá nhân. Bên cạnh đó nguyên tắc phản hồi và nguyên tắc tự ngẫm khuyến khích người học tự tổng hợp các kiến thức và tạo ra kiến thức mới từ đó hình thành tư duy phản biện và thói quen tự học của người học.

Tài liệu tham khảo: 
[1]Mayer, R. E. (2014). Incorporating motivation into multimedia learning. Learning and instruction, 29, 171-173.

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

Thí nghiệm thang đo PH

  • Xác định một dung dịch có tính acid, base hay trung tính
  • Xếp thứ tự các acid và baz theo tính acid/base
  • Tìm mối liên hệ giữa màu sắc chất lỏng và pH
  • Tiên đoán ảnh hưởng của việc pha loãng dung dịch và thể tích chất lỏng đối với pH của acid/base

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

Thí nghiệm Điện Cơ Bản ảo

Bộ Thí nghiệm ảo bao gổm bóng đèn tròn, dây dẫn, nguồn và công tắc. Các bài thí nghiệm có thể thực hiện: 
Bài 1: Công tắc đơn; 
Bài 2: Mắc nối tiếp;
 Bài 3: Mắc song song; 
Bài 4: Đo cường độ dòng điện và đo điện áp.
 

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

Phương pháp thiết kế bài giảng trực tuyến.

 Bài viết này trình bày các khái niệm và phương pháp thiết kế một khóa học trực tuyến. Giáo dục trực tuyến từ xa  được định nghĩa là phương thức học ảo thông qua máy vi tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng được nối mạng với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể tạo các câu hỏi tương tác, các bài tập, môi trường thảo luận ảo, môi trường tương tác trực tuyến thông qua công cụ kỹ thuật số và ra đề thi cho người học học trực tuyến từ xa. Theo Để thiết kế các khóa học trực tuyến người dạy cần tuân thủ các bước như hình 1. Tuy nhiên trong môi trường đại học khi mà các khóa học đã được thiết kế dựa trên chương trình đào tạo trực tiếp khi chuyên đổi qua mô hình đào tạo trực tuyến hoàn toàn nên ở bước phân tích người dạy cần phân tích và xác định lại nội dung cho phù hợp với các hoạt động tương tác trực tuyến. Bên cạnh đó việc xây dựng kế hoạch giảng dạy phụ thuộc vào nền tảng số và kỹ năng số của cơ sở giáo dục. Do đó, ở bước này người dạy lên kế hoạch hoạt động trực tuyến cần lưu ý lựa chọn công cụ số phù hợp với phương pháp sư phạm và nền tảng công nghệ số.


Hình 1. Các bước thiết kế khóa học trực tuyến [1,2]

Để thiết kế các hoạt động tương tác phù hợp trong các khóa học trực tuyến cần  hiểu rõ các loại hình  đào tạo trực tuyến. Đào tạo trực tuyến có hai loại hình đó là loại hình đào tạo trực tuyến đồng thời và đào tạo không đồng thời. Tính chât của từng loại được thể hiện như hình 2 và hình 3.


Hình 2. Đặc tính của loại hình học tập trực tuyến đồng thời


Hình 3. Đặc tính của loại hình học tập trực tuyến không đồng thời


Từ đặc tính của các loại hình trực tuyến kế hoạch thiết kế một khóa học trực tuyến được trình bày như hình 4. 
 

Hình 4. Kế hoạch giảng dạy trực tuyến kết hợp tương tác đồng thời và không đồng thời.

Bài viết trình bày các bước thiết kế khóa học trực tuyến, và giới thiệu một kế hoạch ngắn gọn trong thiết kế khóa học trực tuyến. Tuy nhiên, rào cản lớn trong thiết kế và triển khai các khóa học trực tuyến đó là nền tảng công nghệ số, cơ sở hạ tầng internet và kỹ năng số của người dạy và người học. Tôi nghĩ rằng với việc thường xuyên thiết kế các khóa học trực tuyến và quá trình tự học của người dạy và người học thách thức về kỹ năng số của người dạy ngày càng thu hẹp. Quá trình chuyển đổi này sẽ dần hình thành kỹ năng số cho người dạy và người học.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://tapchigiaoduc.moet.gov.vn/vi/magazine/481-ki-i-thang-7/4-tich-hop-phuong-phap-su-pham-so-trong-hoat-dong-day-va-hoc-tien-den-nen-giao-duc-4-0-7574.html
[2]Trentin, G. (2001). Designing online education courses. Computers in the Schools, 17(3-4), 47-66.