Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon 2019 cho tỉnh Bình Phước

Cuộc thi nhằm kích hoạt sự sáng tạo, đam mê công nghệ của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.

Digital Immersion forum

Chia sẻ thuận lợi và thách thức trong quá trình chuyển đối số trong giáo dục tại diễn đàn "Digital Immersion forum" do dự án BUILD IT phối hợp đại học Arizona State University và Đại Học Công nghiệp Hà Nội tổ chức

Cuộc thi Shell Eco_marathon Europe tại London

Cuộc thi Shell eco_marathon tại London là một cuộc thi thiết kế xe tiết kiệm nhiên liệu dành cho học sinh, viên viên lớn nhất thế giới.

Tham gia khóa tập huấn tại Phần Lan

Khóa học phương pháp sư phạm số nằm trong khuôn khổ dự án EMVITET.

Tham gia tập huấn giáo dục 4.0 tại Phần Lan

Phần Lan là một đất nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2022

Dự án giáo dục đã thực hiện

 Bối cảnh giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2016-2022 với các chính sách về đảm bảo chất lượng thay đổi dẫn đến sự bùng nổ về hoạt động kiểm định giáo dục theo các bộ tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Theo đó, việc thiết kế lại chương trình đào tạo dựa trên năng lực cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá được các trường đại học trong nước chú trọng và đâu tư. 

Trong giai đoạn 2016-2018, là người chịu trách nhiệm chính trong việc đổi mới chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA (Phiên bản 3.0) kết quả đến năm 2019 chương trình được tổ chức AUN-QA (Tổ chức mạng lưới bảo đảm chất lượng của các trường ĐH ASEAN) công nhận. Dựa trên kết quả đó cũng như quá trình tôi tham gia các dự án về giáo dục như là BUILD IT và EMVITET tôi đã thực hiện các dự án giáo dục cho các trường ĐH trong nước như sau:

1. Phát triển chương trình đào tạo Khối Kỹ thuật cho Trường ĐH Văn Lang (2021)

2. Phương Pháp đo lường chuẩn đầu ra, xây dựng Rubric cho Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Đà Nẵng (2021)

3. Phương pháp xây dựng đề cương theo chuẩn đầu ra Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh (2022)

Bên cạnh đó, việc tích hợp công nghệ số trong giáo dục đại học được đẩy mạnh do tác động của đại dịch COVID. Trong giai đạon đầu của đại dịch hầu hết giáo viên đề ứng dụng công nghệ số trong dạy học tuy nhiên phương pháp tiếp cận chưa phù hợp. Đa số giáo viên tiếp cận phương pháp sư phạm số theo góc nhìn của phương pháp sư phạm truyền thống dẫn đến sự hiệu quả không cao. Tôi may mắn tham gia dự án EMVITET (Dự án phát triển năng lực giáo viên hướng đến giáo dục 4.0) do đó, tôi có phương pháp tiếp cận phù hợp và hướng dẫn giáo viên tại trường tôi đang công tác phương pháp sư phạm số. Dựa trên cơ sở đó tôi được mời chia sẻ cụng như tập huấn các buổi về Phương pháp sư phạm số như được liệt kê bên dưới.

1. Phương pháp sư phạm số cho các trường ĐH thuộc dự án BUILD IT (2021)

2. Công nghệ số trong giảng dạy đại hoc cho các trường Đại Học thuộc dự án EMVITET (2022)

3. Tham dự diễn đàn " Digital Digital Immersion forum" (2022)





Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2022

Chuyển đổi góc nhìn tạo dựng tương lai

  NXThinking cung cấp một cách để khám phá các vấn đề trong thế giới thực và tạo ra các giải pháp tiềm năng. Triết lý của NXthinking (xem hình 1) là sự kết hợp của những phương pháp giải quyết vấn đề dựa trên phân tích các khía cạnh như là Big Picture (Bức tranh tổng thể), connection (Sự kết nối), Perspectives góc nhìn của các bên liên quan), the future (Viễn cảnh tương lai), và sự thay đổi để đạt được mục tiêu mong đợi(Change).

Hình 1. Định nghĩa của Shell về NXthinking (Nguồn: NXThinking | NXplorers)

Thinking about the Big Picture

Các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày thường xuất phát từ 2 yếu tố đó là yếu tố tự nhiên và yếu tố do con người tạo ra. Do đó, khi suy nghĩ phương pháp giải quyết một vấn đề nào đó cần lưu ý đến tính hệ thống của nó bao gồm các mối liên hệ của các yêu tố liên quan cũng như mức độ sự kết nối của các yếu tố. Bức tranh tổng thể thể hiện sự kết nối của các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết, giúp chúng ta giải quyết vấn đề mang tính hệ thống và các giải pháp đưa ra không ảnh hướng đến các yếu tố khác.   

Thinking about connection

Khi chúng ta nghiên cứu về bức tranh tổng thể chúng ta không thể giải quyết được tất cả các vấn đề khác nhau liên quan đến vấn đề thực tế.  Bằng cách tìm kiếm sự kết nối chúng ta sẽ tìm thấy nhiều yếu tố vận hành độc lập, không liên quan đến vấn đề cần giải quyết cũng như những vấn đề lien quan chặt chể đến vấn đề cần giải quyết. Bằng cách suy nghĩ về sự kết nối chúng ta sẽ xác định được các yếu tố cần giải quyết cũng như các yếu tố cần loại bỏ. Đê thực hiện việc này Shell đưa ra cho chúng ta một bộ công cụ Vòng kết nối Connections-Circle-EN.pdf (nxplorers.com) 

Thinking about Perspectives

Góc nhìn của chúng ta giống như một kính viễn vọng để quan sát thế giới xung quanh. Mỗi một cá nhân đều có một góc nhìn về thế giới xung quanh theo góc nhìn của họ. Để giải quyết một vấn đề mang có tính hiệu quả, chúng ta cần thu thập nhiều góc nhìn khác nhau bằng cách phỏng vấn các bên liên quan về các vấn đề mà chúng ta đang giải quyết. Bời vì, khi hiểu sâu về vấn đề giúp chúng ta giải quyết vấn đề mang tính hệ thống và có sự thấu cảm. Bộ công cụ Perspectives Circuit Perspectives-Circle-EN.pdf (nxplorers.com)

Thinking about future

Khi suy nghĩ về  viễn cảnh tương lai, chúng ta sẽ thiết lập mục tiêu cần phải thực hiện từ đó lập kế hoạch và lộ trình thay đổi hiện tại để đạt được các mục tiêu tương lai. Để thực hiện việc này Shell đã xây dựng bộ công cụ SCENARIO PLANNING QUADRANT Scenario-Planning-Quadrant-EN.pdf (nxplorers.com)

Công cụ này hướng cách sử dụng lập kế hoạch kịch bản để vạch ra nhiều loại viễn cảnh tương lai có thể xảy ra. Lập kế hoạch theo kịch bản giúp bạn xem xét các xu hướng hiện tại để có thể đưa ra dự đoán đúng đắn về tương lai và đưa ra quyết định tốt hơn ntại thời điểm hiện tại. Giai đoạn này rất quan trọng vì các kịch bản xuất hiện sẽ thông báo cho bạn quyết định những hành động hoặc dự án nào cần thực hiện. Có một tầm nhìn rõ ràng về một tương lai ưa thích cho phép bạn thực hiện các bước cần thiết để tạo ra nó.

Thinking about of change

Khi suy nghĩ về sự thay đổi có những thay đổi mang tính khả thi và có những thay đổi không mang lại lợi ích vậy làm thế nào để tạo ra sự thay đổi có tính khả thi cao, có thể áp dụng và triển khai mang tính rộng rãi. Shell cung cấp bộ công cụ gọi là "Phễu khả thi" giúp chúng ta lựa chọn được phương án giải quyết vấn đề hiệu quả và mang tính khả thi cao. Bộ công cụ "Phễu khả thi " các bạn tải tại đây Feasibility-Funnel-EN.pdf (nxplorers.com)  Bên cạnh phễu khả thi, Shell cung cấp bộ công cụ thứ 2 trong giai đoạn này là Ripple Effect. Bộ công cụ này hỗ trợ các bạn xác định các ảnh hưởng có thể xảy ra khi sự thay đổi diễn ra. Link tải bộ công cụ Ripple Effect Perspectives-Circle-EN.pdf (nxplorers.com) Điều quan trọng nhất là khi bạn đã xác định được các hành động thay đổi bạn cần trình bày các ý tưởng và kêu gọi sự đầu tư của các bên liên quan. Kỹ năng trình bày ý tưởng là yếu tố quyết định cho sự thành công dự án của bạn. Shelll cung cấp bộ công cụ PERSUASION PYRAMID hỗ trợ các bạn trình bày ý tưởng một cách hiệu quả Persuasion-Pyramid-EN.pdf (nxplorers.com)

Theo tôi, khi áp dụng bộ công cụ này đề giải quyết một vấn đề trong cuộc sống hàng ngày cũng như những vấn đề mang tính vĩ mô đều mang lại hiệu quả cao khi tuân thủ các bước từ giai đoạn "Khám phá nguyên nhân" giai đoạn "kiến tạo" đến "thay đổi. Đối với sinh viên đang học khi hiểu rõ và áp dụng bộ công cụ này trong giải quyết các vấn đề khi ra trường các bạn sẽ là các đối tượng được các doanh nghiệp chào đón. Đối với giảng viên và người đi làm bộ công cụ này hỗ trợ các bạn giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Đối với cán bộ quản lý khi áp dụng bộ công cụ này hỗ trợ các bạn đưa ra quyết định phù hợp.


Thứ Tư, 21 tháng 9, 2022

Giáo dục 4.0: Giáo dục dựa trên năng lực

 Đổi mới phương pháp dạy và học là cụm từ thường xuyên được nhắc tới trong suốt thập niên gần đây. Một số nghiên cứu của các nhà giáo dục học trên thế giới đã chỉ ra rằng thói quen người học đã thay đổi khi khoa học công nghệ thay đổi [1,2]. Thời gian tự học của người học giảm dần và thói quen làm việc nhóm để giải quyết các vấn đề trên lớp hình thành. Bên cạnh đó, thói quen sử dụng công nghệ trong các hoạt động học tập đã trở thành văn hoá. Tuy nhiên, việc chuyển đổi thói quen người học đã hình thành trong một thời gian dài, để thích ứng với cách học mới đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng lộ  trình và phương pháp tiếp cận phù hợp. Bài viết này trình bày hệ sinh tháo giáo dục hướng đến giáo dục 4.0 nòng cốt là mô hình phát triển giáo dục hướng đến năng lực người học (hình 1).

                       Hình 1. Mô hình phát triển giáo dục hướng đến năng lực người học

 Hệ sinh thái học tập: Hê sinh thái học tập trong mô hình này định hướng phát triển một hệ thống năng động bao gồm cơ sở hạ tầng  và nguồn nhân lực dựa trên quan điểm học tập với hướng tiếp cận giáo dục dựa trên năng lực. Theo đó, giảng viên thay đổi vai trò từ giảng dạy sang vai trò người theo dõi, hỗ trợ và khuyến khích người học. Một ví dụ về hệ sinh thái học tập tại cơ sở giáo dục ngoài công lập.

 Theo đó, cơ sở giáo dục sẽ thành lập nhóm phát triển giáo dục thường xuyên tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp sư phạm, công nghệ số giữa các khối ngành. Mô hình dạy và học hiệu quả thường xuyên áp dụng cho khối ngành kỹ thuật đó là mô hình “Project based learning” tuân thủ quy trình từ xác định vấn đề đến sản xuất sản phẩm mẫu gắn liền với nhu cầu của xã hội.  Trong hệ sinh thái học tập này, người học đóng vai trò rất quan trọng. Người học hoàn toàn chủ động thông qua các hoạt động trước, trong và sau giờ học. Để người học chủ động, cơ sở giáo dục xây dựng các phòng tự học tại thư viện và tại tất cả các cơ sở trong trường. Các phòng nghiên cứu mở (open lap) để khuyến khích người học phối hợp với bạn cung lớp và giáo viên đồng sáng tạo ra những sản phẩm mới và kiến thức mới. Bên cạnh đó, các phòng học hiện đại được xây dựng với thiết kế tạo mọi điều kiện cho các hoạt động dạy và học tích cực như là bàn ghế có thể ghép nhóm, màn hình tivi, máy chiếu và wifi.

Công nghệ dạy và học: Sự thay đổi của công nghệ dẫn đến thói quen của người học sẽ thay đổi từ học trực tiếp sang các mô hình học trực tuyến, mô hình học tập kết hợp (trực tuyến và trực tiếp). Người dạy cần sử dụng công cụ phù hợp cho từng mô hình dạy học nên cần được được đào tạo năng lực số trong giảng dạy. Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục cần phát triển hệ thống LMS  và một số công cụ hỗ trợ dạy học như là Padlet, Zoom, Google jamboard… Đặc biệt,  hệ thống hồ sơ năng lực điện tử (ePortfolio) hỗ trợ người dạy theo dõi sự tiến bộ cũng như nhận thức của người học là rất quan trọng.

Phương pháp sư phạm:  Đối với quan điểm dạy học dựa trên năng lực, các hoạt động dạy và học đều tập trung vào chuẩn đầu ra. Theo đó, người dạy tập trung vào năng lực nghề nghiệp thực tế mà người học cần đạt được để hỗ trợ người học đạt được kiến thức, kỹ năng thông qua học tập tích cực và cá nhân hóa người học. Đánh giá người học thay đổi theo hướng đa dạng phương pháp có sự hỗ trợ các công cụ và phần mềm thông qua việc triển khai các bài trình bày dạng hồ sơ năng lực điện tử, các video các bài thảo luận nhóm cho người học.

Đổi mới phương pháp dạy và học hướng đến năng lực người học là xu thế để tiến đến giáo dục 4.0. Tuy nhiên, để triển khai một cách đồng bộ ngoài các yếu tố kỹ thuật như hệ sinh thái học tập, công nghệ dạy và học và phương pháp sư phạm. Theo tôi các cơ sở giáo dục cần quan tấm đến yếu tố lấy con người làm trung tâm cho sự thay đổi là yếu tố tiên quyết cho sự thành công. 

Tài liệu tham khảo.

1.     Kumar, S. (2015). Study habits of undergraduate students. International Journal of Education and Information Studies5(1), 17-24.

Poscia, A., Frisicale, E. M., Parente, P., Milia, D. I. L., Waure, C. D., & Pietro, M. L. D. (2015). Study habits and technology use in Italian university students. Annali dell'Istituto superiore di sanita51, 126-130

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2022

Công cụ lập kế hoạch bài giảng lee schedule toolkit

Bộ công cụ thiết kế bài giảng trực tuyến Lee schedule toolkit được thiết kế chạy trên nền tảng web. Bộ công cụ không cần cài đặt và tương thích với các thiết bị di động.

Bộ công cụ hỗ trợ lập kế hoạch thiết kế khóa học, trực tuyến, hoặc và kết hợp theo mô hình lớp học đảo ngược, phong cách học tập của Kolb và mô hình ABC design. Theo đó, cấu trúc của khóa học được chia làm hai giai đoạn giai đoạn tự học và giai đoạn học có sự hướng dẫn của người dạy hay còn gọi là giai đoạn học trên lớp.

Link truy cập bộ công cụ: https://lee-schedule-toolkit.web.app/

Link hướng dẫn sử dụng:Link

Giai đoạn tự học: Người học tự tương tác với tài liệu thông qua các hệ thống quản lý học tập như là Moodle, Google classroom  hay là các phần mềm quản lý học tập khác. Để người học tương tác một cách hiệu quả với tài liệu học tập người dạy cần thiết kế các hướng dẫn cụ thể về sử dụng công nghệ cũng như phương pháp truy cập vào các học liệu số. 

Giai đoạn học có sự hướng dẫn của người dạy: Giai đoạn này việc học có thể học trên lớp hoặc học trực tuyến thông qua hình thức trực tuyến đồng thời sử dụng các công cụ hội thảo trực tuyến Video (Zoom, Google meet, MS Team). Người dạy sẽ thiết kế các hoạt động dạy và học thông qua các hoạt động tương tác trực tiếp.

Các hoạt động dạy và học

     Phần mềm tích hợp các hoạt động dạy và học như bảng 1.

Bảng 1. Các hoạt động dạy và học

 

Người dạy sẽ thiết kế những thông tin người dạy muốn chuyển đến người học (Đề cương, phương pháp đánh giá, nội dung giảng dạy, các hướng dẫn…)

 

Người dạy thiết kế các hoạt động thảo luận

 

Người dạy thiết kế các hoạt động hợp tác

 

Người dạy thiết kế các các hoạt động tìm kiếm và tổng hợp tài liệu

 

Người dạy thiết kế các các hoạt động thực hành tại lớp hoặc /và trực tuyến

 

Người dạy thiết kế các hoạt động người học tạo ra các sản phẩm. Như là cái bài viết, các báo cáo, hoặc các sản phẩm cụ thể ( Học dựa trên dự án)

 

Người dạy thiết kế các hoạt động đánh giá người học mang tính thường xuyên trong suốt quá trình học một khóa học

 

Người dạy thiết kế các hoạt động đánh giá người học sau khi hoàn thành khóa học như là đánh giá cuối kỳ.

 

Người dạy thiết kế cho các hoạt động tiếp nhận của người học thông qua tương tác các tài liệu (sách, bài giảng video).

 

 




Thứ Ba, 3 tháng 5, 2022

Huy hiệu kỹ thuật số - Giáo dục dựa trên năng lực.

Huy hiệu kỹ thuật số trong giáo dục là một biểu tượng hoặc chỉ báo xác thực về thành tích, kỹ năng, phẩm chất mà người học đạt được trong các môi trường học tập khác nhau [1]. 

Huy hiệu vật lý đã được sử dụng hàng trăm năm trong các lĩnh vực khác nhau nhưng huy hiệu kỹ thuật số mới được hình thành trong những năm gần đây khi mà các nền tảng số phát triển nhanh chóng và cho phép người dùng tuỳ biến phát hành các huy hiệu số. Theo các nhà nghiên cứu giáo dục [2] huy hiệu kỹ thuật số đang nhanh chóng trở thành một công cụ thích hợp, dễ dàng và hiệu quả cho các nhà giáo dục, các nhóm cộng đồng và các tổ chức nghề nghiệp khác để triển lãm và khen thưởng những người tham gia và đạt được các kỹ năng trong quá trình phát triển nghề nghiệp hoặc học chính thức và không chính thức.

 Để xây dựng huy hiệu kỹ thuật số cần xác định các tiêu chí về năng lực cần đạt của người học, các minh chứng người học cần cung cấp. Khi đạt được các năng lực phù hợp với tiêu chí người học sẽ được cấp huy hiệu kỹ thuật số. Hình 1. Huy hiệu kỹ thuật số khi hoàn thành các tiêu chí về việc sử dụng công nghệ số trong giảng dạy. Bên cạnh đó, huy hiệu số tích hợp thông tin về năng lực cần đạt như hình 2.

Hình 1. Huy hiệu số 

This meta badge is issued to a person who has demonstrated competences of the badges: Establishing: - learning design Pedagogy Edu 4.0 - technology in Edu 4.0 - learning ecosystem in Edu 4.0 Piloting: - pedagogical practices in Edu 4.0 - technology in Edu 4.0 - learning ecosystem in Edu 4.0 Ingraining: - pedagogy in Edu 4.0 - technology in Edu 4.0 - learning ecosystem in Edu 4.0

Issuer

Hämeen ammattikorkeakoulu/ Häme University of Applied Sciences (HAMK)

Issued On

2022-05-01

Expires

-
Link:Open Badge Factory validator

Hình 2. Thông tin huy hiệu số


Bên cạnh đó, huy hiệu kỹ thuật số tích hợp các thông tin như chuẩn đầu ra người học cần đạt, tiêu chí của huy hiệu, ngày phát hành, đơn vị phát hành và mô tả minh chứng cho việc người học hoàn thành chuẩn đầu ra cần đạt của huy hiệu. Bản thân tôi tham dự các khoá học của dự án EMVITET "Tăng cường năng lực giảng dạy của giảng viên tại Việt Nam hướng tới nền tảng giáo dục 4.0 " với các nhiệm vụ từ năm 2019 -2022 do các thành viên của Trường đại học Hamk, Phần Lan; Trường Đại Học Dublin City, Ai Len và Trường Đại Học Kuleuven, Bỉ.  Khi tôi hoàn thành các nhiệm vụ sẽ được cấp các huy hiệu kỹ thuật số. Mục tiêu của dự án là các thành viên phải đạt được 9 huy hiệu cho mỗi lĩnh vực như Phương pháp sư phạm, công nghệ số trong giảng dạy và hệ sinh thái giáo dục 4.0 (xem hình 3).  Các minh chứng về năng lực cần đạt là các bài viết của tôi trên hệ thống hồ sơ năng lực điện tử. . 


                                                              Hình 2.  Huy hiệu kỹ thuật số 

Các lợi ích khi sử dụng huy hiệu số trong trường đại học

Đối với người học, huy hiệu số chính là “giấy chứng nhận” trực tuyến cho các thành tích mà người học đạt được trong quá trình học tập tại trường.. Tuỳ vào mục tiêu phát triển người học như thế nào, mỗi trường đại học sẽ xây dựng hệ thống các hoạt động ứng với các phẩm chất, kỹ năng, thái độ, kiến thức mà người học cần đạt được. Với mỗi hoạt động sau khi hoàn thành, người học sẽ được cấp huy hiệu tương ứng. Như vậy, trong suốt quá trình học tập của mình, người học phấn đấu tích luỹ các huy hiệu và từng bước làm “dầy” thêm hồ sơ năng lực của mình. Huy hiệu số trở thành một phần giá trị trong hồ sơ năng lực của người học sau khi ra trường.. 
Đối với cơ sở giáo dục tại Việt Nam, việc thiết kế và sử dụng huy hiệu số là hoạt động phù hợp với xu thế của giáo dục quốc tế trong thời đại công nghệ số.
Các huy hiệu số được chia sẻ và sử dụng trong môi trường số, nên hình ảnh, thông tin của trường sẽ tiếp cận được với nhiều đối tượng. Đây là cách truyền thông hiệu quả và chất lượng trong bối cảnh các trường đại học của Việt Nam đang “đau đầu” với các chiến lược quảng bá hình ảnh của trường trong mỗi mùa tuyển sinh. 
Đối với các đơn vị tuyển dụng, huy hiệu số do các trường đại học cấp cho sinh viên là kho dữ liệu giá trị khi xem xét hồ sơ năng lực của sinh viên tốt nghiệp. Thông tin về năng lực của người học được công bố rõ ràng và đa dạng. Doanh nghiệp cũng dễ dàng “đặt hàng” với trường về việc đào tạo các năng lực khác cho người học để đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thể hiện đầy đủ thông tin đó thông qua huy hiệu số. Như vậy, nhà trường và đơn vị tuyển dụng đã xây dựng thành công hồ sơ năng lực trực tuyến cho người học. Đây là cơ sở dữ liệu phù hợp, tiện lợi, có giá trị khi mọi thông tin về năng lực của ứng viên được tích hợp đầy đủ trong hồ sơ tuyển dụng.

Tài liệu tham khảo 

[1]Watters, Audrey. "Master a new skill? Here's your badge". O'Reilly Radar. Retrieved November 21, 2012.
 [1]Shields, R. & Chugh, R, 2017, ‘Digital badges – rewards for learning?’, Education and Information Technologies, vol. 22, no. 4, pp. 1817–1824, doi: 10.1007/s10639-016-9521-x.