Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon 2019 cho tỉnh Bình Phước

Cuộc thi nhằm kích hoạt sự sáng tạo, đam mê công nghệ của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.

Digital Immersion forum

Chia sẻ thuận lợi và thách thức trong quá trình chuyển đối số trong giáo dục tại diễn đàn "Digital Immersion forum" do dự án BUILD IT phối hợp đại học Arizona State University và Đại Học Công nghiệp Hà Nội tổ chức

Cuộc thi Shell Eco_marathon Europe tại London

Cuộc thi Shell eco_marathon tại London là một cuộc thi thiết kế xe tiết kiệm nhiên liệu dành cho học sinh, viên viên lớn nhất thế giới.

Tham gia khóa tập huấn tại Phần Lan

Khóa học phương pháp sư phạm số nằm trong khuôn khổ dự án EMVITET.

Tham gia tập huấn giáo dục 4.0 tại Phần Lan

Phần Lan là một đất nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

Tham gia tập huấn Training of Trainers (ToT)

Tôi và cộng sự vinh dự được lựa chọn tham gia Chương trình DIES National Multiplication Training (NMT) tại Berlin Đức; một chương trình đào tạo quốc tế uy tín, quy tụ các nhóm chuyên gia đến từ 12 quốc gia thuộc Châu Phi, Đông Nam Á và Mỹ La-tinh, gồm: Benin, Cameroon, Kenya, Mozambique, Senegal, South Africa, Zambia, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Bolivia và Colombia..

Hiển thị các bài đăng có nhãn NLTT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NLTT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Hệ thống nông quang điện - Sự kết hợp bền vững giữa sản xuất điện và nông nghiệp

Bài viết giải thích hệ thống nộng quang điện và phân tích tiềm năng cũng như khả năng áp dụng hệ thống nông quang điện tại Việt Nam nói chung và Bình Phước nói riêng.

Nguồn: https://skhcn.binhphuoc.gov.vn/co-so-du-lieu-kh-cn/ban-tin-kh-cn/so-06-07-2021/he-thong-nong-quang-%C4%91ien-su-ket-hop-ben-vung-giua.aspx.

 






Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Techno-Economic Analysis of Grid Connected Photo-Voltaic Power Plant in Vietnam

 This paper presents the important parameters of the grid-connected photovoltaic power plant located in Vietnam including energy production, the number of photovoltaic panels (PV), and the number of inverters. In this study, The PV Syt software is used for simulation. Besides, the project 1 MW installed capacity of a grid-connected photovoltaic system, and the solar radiation of 63 locations in Vietnam is considered for simulation. Furthermore, an economic model was proposed to identify the Net Present Value (NPV), Internal Rate of Return (IRR), Levelized Cost of Energy (LCOE), and payback years (PB).

The result showed that the yield of the photovoltaic solar plant is within in the range from 1100 to 1631 MW per year the LCOE ranges between 0.0289 and 0.0396 USD/kWh. In addition, based on the law of Vietnam the price to sell of electricity production to EVN was 9.35 cents, the NVP in Southern Vietnam was significantly positive, ranging between $120.350 and $437,268, and the Payback years fluctuated from 7 to 11 years.

link: https://link.springer.com/chapter/10.1007/978-3-030-62324-1_19


Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

A Method to Estimate and Analyze the Performance of a Grid-Connected Photovoltaic Power Plant

This paper presents a method to estimate the yield and analyze the performance of a grid-connected photovoltaic (PV) power plant including a rooftop PV system and a solar farm. The yield model was developed based on a commercial PV model in a MATLAB/Simulink environment. A simulation model is built to connect with the PV rooftop system and the solar farm in which their total installed capacities are 0.986 and 30.7 MW, respectively. The simulated and measured final yield results of a rooftop PV system in Vietnam are compared. Additionally, this paper provides a function of reducing the final yield corresponding to different PV operation temperature values. Furthermore, the performance of both a rooftop PV system and a solar farm, in Vietnam, are evaluated as the rated power of 0.986 and 30.7 MWp, respectively. The results also show that their performance is satisfactory, in which the value of the performance ratio (PR) average reaches 70% for the rooftop PV system and 80.45% for the solar farm within a six-month period, in 2019. The PR is also compared with a global PR average from 70% to 80% for a sufficiently well-performed solar system. View Full-Text


XÂY DỰNG MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG ĐIỆN MẶT TRỜI TRÊN MÁI NỐI LƯỚI DỰA TRÊN MÔI TRƯỜNG MATLAB/SIMULINK

Bài báo được đăng tại tạp chí Khoa Học Giáo Dục Kỹ Thuật. Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố HỒ Chí MInh.
Tóm Tắt.
Bài báo này trình bày phương pháp xây dựng mô hình tính toán sản lượng điện mặt trời cho nhà máy điện mặt trời thương mại, dựa trên môi trường MATLAB/SIMULINK. Hệ thống bao gồm một mô đun pin quang điện thương mại, mô hình tổn thất sản lượng và mô hình ước lượng sản lượng điện. Bên cạnh đó, một mô hình có công suất lắp đặt thiết kế lần lượt là 59kW và 1MW được xây dựng dựa trên mô đun quang điện thương mại thực tế. Kết quả từ mô hình được so sánh với nhà máy điện mặt trời trên mái nối lưới tại hai địa điểm của tỉnh Bình Dương: Điện lực tại thị xã Bến Cát và Khu du lịch Đại Nam tại thành phố Thủ Dầu Một.
Với hai nhà máy khác nhau công suất khác nhau, qua kết quả thử nghiệm cho thấy độ sai lệch là 5,36% giữa mô hình và kết quả đo lường thực tế tại nhà máy. Từ kết quả phân tích cho thấy mô hình xác định sản lượng điện mặt trời có những ưu điểm (1) có độ chính xác tin cậy; (2) không phụ thuộc vào các phần mềm tính toán sản lượng điện thương mại; (3) giảm chi phí đầu tư cho phần mềm xác định sản lượng.
Từ khóa: MATLAB/SIMULINK; ước sản lượng điện mặt trời; mô đun quang điện; tổn thất sản lượng; điện mặt trời áp mái.
ABSTRACT
This paper presents a method to develop a yield model for photovoltaic rooftop system based on the MATLAB/SIMULINK environment. The system including a photovoltaic model, losses model, and yield model. Furthermore, a model with a 1MW and 59kW capacity photovoltaic rooftop system is built for simulation. The results of the simulation will be compared with two photovoltaic rooftop systems connected to the grid in Thu Dau Mot, Binh Duong province. 
From the analysis results, the system has the gap between simulation and measurement is 5,36 %. The system has advantages (1) sufficient accuracy; (2) erase commercial photovoltaic software; (3) cost-effectively.
Keywords: MATLAB/SIMULINK; PV model; losses model, rooftop system; Yield model.

link: http://tapchikhgdkt.hcmute.edu.vn/ArticleId/259fb96d-4494-4f7f-968e-8baa4812b05d/11xay-dung-mo-hinh-xac-dinh-san-luong-dien-mat-troi-tren-mai-noi-luoi-dua-tren-moi-truong-matlab-simulink

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

Pin quang điện thương mại đạt công suất đỉnh 505Wp/tấm

Mơi đây công ty Trina Solar công bố pin quang điện thương mại thế hệ mới đạt công suât đỉnh là 500Wp/Tấm và hiệu suất 21%. Thông số kỹ thuật của tâm Pin quang điện được trình bày như hình dưới.
Hình 1. Thông số kỹ thuật Pin quang điện Vertex 500W. (Nguồn Trina Solar)

Công suất lớn tiết kiệm diện tích lắp đặt.
       Các tấm pin quang điện thế hệ mới với công suất đạt trên 500Wp sẽ là một bước tiến lớn làm giảm chi phí đầu tư diện tích lắp đặt hoặc/và trên cùng một diện tích sẽ tăng công suất lắp đặt.
       Làm một phép so sánh nhỏ để thấy được diện tích đất tiết kiệm được khi lắp đặt tấm pin quang điện thế hệ mới. Với tấm pin quang điện có công suất là 330W (Hầu hết các nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam đang sử dụng loại pin quang điện có công suất đỉnh là 330Wp đến 380Wp). Diện tích mỗi tấm pin là 2m vuông. 1MW cần 3030 tấm pin quang điện có cống suất 330Wp, diện tích của các modul là 6.0060 mét vuông. Chọn hệ số LF =2, thì diện tích lắp đặt 1MWp cần là 1.2ha. Nếu sử dụng tấm pin quang điện có công suất 505Wp  có thông số kỹ thuật như Hình 1 thì diện tích lắp đặt chỉ cần 0.9 ha/1MW. 
 Như vậy cứ mỗi 1MWp sử dung công nghệ mới sẽ tiết kiệm được 3000 mét vuông đất so với sử dụng công nghệ cũ.
  

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt và ban hành chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể về định hướng phát triển trong giai đoạn từ nay đến 2030 như sau:
Phát triển sử dụng nguồn năng lượng tái tạo độc lập nhằm đáp ứng mục tiêu điện khí hóa nông thôn: Xây dựng các chương trình phát triển hệ thống điện độc lập năng lượng tái tạo và quy mô gia đình cho khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa, miền núi, hải đảo nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội để đạt mục tiêu đến năm 2020 hầu hết các hộ nông thôn đều có điện, năm 2030 hầu hết các hộ dân nông thôn được sử dụng nguồn năng lượng sạch.
Đầu tư phát triển nhà máy phát điển sử dụng năng lượng tái tạo nối lưới:

+ Khuyến khích các dự án NLTT khả thi về kinh tế
+ Khuyến khích, hỗ trợ một số công nghệ NLTT chưa khả thi
về kinh tế
- Phát triển nguồn NLTT cho cung cấp nhiệt năng: Hỗ trợ một
phần chi phí giai đoạn đầu - Phát triển nhiên liệu sinh học: hỗ trợ các dự án nhiên liệu
sinh học thế hệ thứ 2, thứ 3 không sử dụng nguyên liệu từ
lương thực

Chi tiết của quyết định tải về theo link này:
https://www.evn.com.vn/userfile/User/tcdl/files/2018/10/QD2068_signed.pdf

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Hệ thống quang điện tích hợp trong tòa nhà (BIPV)


Hệ thống quang điện tích hợp trong tòa nhà (Building-integrated photovoltaics) là hệ thống liền mạch hòa trộn vào kiến trúc tòa nhà dưới dạng mái nhà, mái vòm, tường rèm, và hệ thống giếng trời. Không giống như các tấm pin mặt trời truyền thống, BIPV có ưu thế về mặt thẩm mỹ hơn và dễ dàng hòa hợp với thiết kế tòa nhà. Thông thường vật liệu để tích hợp cho mô hình này là Kính tích hợp pin quang điện. Kính tích hợp pin quang điện được lắp đặt làm vật liệu xây dựng hoạt động như một thiết bị tạo năng lượng, cho phép ánh sáng tự nhiên đi vào bên trong nhà và văn phòng, giống như kính kiến trúc thông thường. 

Hình 1. Tòa nhà với mặt tiền tích hợp các tấm kính pin quang điện (ảnh: https://ctpsolar.com/)
Tuy nhiên, chỉ tính thẩm mỹ là chưa đủ để khuyến khích các chủ tòa nhà tích hợp pin năng lượng mặt trời vào tòa nhà của mình; vấn đề chi phí cần được đưa ra phân tích. Các tấm pin năng lượng mặt trời BIPV cho phép chủ nhà tiết kiệm chi phí vật liệu xây dựng và chi phí điện. Bằng cách thay thế BIPV cho vật liệu xây dựng tiêu chuẩn, người sử dụng có thể cắt giảm chi phí bổ sung cho các hệ thống lắp đặt bảng điều khiển năng lượng mặt trời.Công nghệ BIPV, khi được sử dụng trên mặt tiền của tòa nhà, lan can, sàn sân thượng mang lại những lợi ích sau: Tăng hiệu quả sử dụng năng lượng; Cách nhiệt và cách âm cao; Sản lượng điện sạch và miễn phí từ mặt trời; Giảm chi phí O & M.

Hệ thống điện mặt trời nổi trên mặt nước


Vật liệu chế tạo pin quang điện đang trở nên rẻ hơn và hiệu quả hơn từng ngày. Hiệu suất cho các pin quang điện thương mại đang dao động từ 18-22% tùy thuộc vào vật liệu (Mono hoặc Poly). Theo các chuyên gia, nếu các tấm quang điện được đặt trên các hồ chứa và các vùng nước khác, chúng mang lại hiệu quả cao hơn cũng như rất nhiều lợi ích khác.
Hệ thống pin quang điện đặt trên các phao nổi(Floating Photovoltaic system) là hệ thống năng lượng mặt trời quang điện được tạo ra để nổi trên các hồ chứa, đập và các vùng nước khác ví dụ như: Tại các đập chứa nước thủy điện, nước thủy lợi v.v. Tuy nhiên, các dự án nổi đặt trên hồ chứa nước sinh hoạt cần đánh giá tác động của pin quang điện đến sức khỏe con người (Xem hình 1).
Hình 1. Hệ thống pin quang điện nổi (Nguồn Sungrow)
Trang trại năng lượng mặt trời nổi có thể tạo ra một lượng điện lớn mà không cần sử dụng đất có giá trị hoặc phải hi sinh đất làm nông nghiệp hiệu quả. Chi phí lắp đặt các tấm quang điện nổi ít hơn các tấm quang điện trên đất liền. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng sản lượng điện của các tấm pin mặt trời nổi lớn hơn tới 10% do hiệu ứng làm mát của nước. Bên cạnh việc sản xuất năng lượng mặt trời sạch, các trang trại năng lượng mặt trời nổi có thể giúp quản lý nước. Chúng làm giảm sự mất nước do bay hơi vì chúng hạn chế lưu thông không khí và chặn ánh sáng mặt trời từ bề mặt nước. Ngoài ra, các trang trại năng lượng mặt trời nổi ngăn chặn sản xuất tảo độc hại, giảm chi phí xử lý nước. Hơn nữa, nước bên dưới giữ cho các tấm pin mặt trời sạch và giảm thiểu lãng phí năng lượng.

Biểu giá mới mua điện của chính phủ cho các dự án điện mặt trời.

Biểu giá mua điện mặt trời mới tại Việt Nam đã thay đổi cụ thể như sau mức giá 1.783 đồng/kWh (7,69 cent) dành cho dự án điện mặt trời nổi; 1.644 đồng/kWh (7,09 cent) với điện mặt trời mặt đất và 1.943 đồng/kWh (8,38 cent) với điện mặt trời trên mái nhà. Giá mua điện này được áp dụng 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại. Biểu giá trên theo quyết định số 13 về cơ chế khuyến khich phát triển điện mặt trời tại Việt Nam.




Báo cáo tình hình phát triển năng lượng tái tạo trên toàn thế giới tính đến hết năm 2019

Tài liệu này là báo cáo về tình hình phát triển năng lượng tái tạo trên thế giới tính đến hết năm 2020 của tổ chức REN 21.

REN21 là cộng đồng năng lượng tái tạo toàn cầu các báo cáo được tập hợt từ cá nhà khoa học, chính phủ, tổ chức phi chính phủ và ngành công nghiệp. REN 21 cung cấp các sự kiện, số liệu và phân tích cập nhật và đánh giá ngang hàng về sự phát triển toàn cầu về công nghệ, chính sách và thị trường trong lĩnh vực năng lượng tái tạo

Link tải tài liệu
https://www.ren21.net/wp-content/uploads/2019/05/gsr_2019_full_report_en.pdf

Phân tích kinh tế kỹ thuật dự án điện mặt trời trên mái nối lưới tại Việt Nam

Luận văn này phân tích tính khả thi về mặt kinh tế cho một hệ thống điện mặt trời trên mái nối lưới. Dựa vào số liệu bức xạ mặt trời tại 32 tỉnh thành phía Nam nước Việt Nam và biểu đồ phụ tải tiêu biểu của hộ gia đình tại thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương để đưa ra mô hình tính toán và phân tích tính khả thi của hệ thống điện mặt trời trên mái nối lưới. Mô hình tính toán sản lượng điện được xây dựng dựa trên phần mêm PVsyst. Từ kết quả tính toán cho thấy đối với các hộ gia đình thông thường lắp đặt hệ thống điện mặt trời từ 3kW – 5 kW,  sản lượng điện tương ứng là 4.48 - 7.54MWh/năm là phù hợp. Giá đầu tư cho hệ thống dao động từ 54.438.500 đồng – 88.874.250 đồng (2.377USD – 3.881USD), thời gian hoàn vốn từ 6-9 năm.
Link xem toàn văn:
 https://drive.google.com/file/d/1nibwgFLAFkerpFtQP9RZZxtjnADQGUuP/view?usp=sharing

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

Chương 1.TỔNG QUAN HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI

1.1 Tổng quan điện mặt trời hòa lưới trên thế giới
Trong những năm gần đây với sự phát triển của khoa học công nghệ vật liệu, hiệu suất của Pin quang điện ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, giá pin quang điện giảm mạnh đã thúc đẩy cho sự phát triển mạnh mẽ các hệ thống pin quang điện. Theo báo cáo của IEA (Cơ quan năng lượng Quốc Tế) tính đến hết năm 2018 công suất lắp đặt điện mặt trời quang điện trên thế giới khoảng 500GW [1]. Hình 1.1. Công suất lắp đặt nhà máy pin quang điện từ năm 2000 đến năm 2018.
Hình 1.1. Công suất lắp đặt hệ thống pin quang điện từ năm 2000 đến năm 2018
Theo đó, trong thập niên 2000 sự phát triển của các hệ thống pin quang điện trên thế giới ở mức rất thấp. Tuy nhiên trong thập niên tiếp theo từ năm 2011 đến hết năm 2018 công suất lắp đặt tăng 500% so với những năm 2000.
Theo dữ liệu tổng hợp của IEA 10 quốc gia có công suất lắp đặt các hệ thống pin quang điện lớn nhất thế giới tính đến hết năm 2018 là 434 GW chiếm 86.8% tổng công suất lắp đặt trên toàn thế giới. Bảng 1.1 Công suất lắp đặt của 10 quốc gia có công suất lắp đặt lớn nhất thế giới.
Bảng 1. 1 Mười quốc gia có công suất lắp đặt lớn nhất thế giới @ 12/2018
Công suất lắp đặt hằng năm
Công suất lắp đặt lũy kế
1
Trung Quốc
45,0 GW
1
Trung Quốc
176.1GW
2
Ấn độ
10.8 GW
2
Mỹ
62.2 GW
3
Mỹ
10.6 GW
3
Nhật Bản
56.0 GW
4
Nhật Bản
6.5 GW
4
Đức
45.5 GW
5
Úc
3.8 GW
5
Ấn Độ
32.9 GW
6
Đức
3.0 GW
6
Ý
20.1 GW
7
Mê Hi Cô
2.7 GW
7
Anh
13.0 GW
8
Hàn Quốc
2.0GW
8
Úc
11.3 GW
9
Thổ Nhỉ Kỳ
1.6GW
9
Pháp
9.0 GW
10
Hà Lan
1.3 GW
10
Hàn Quốc
7.9GW

Ngoài ra các hệ thống điện mặt trời quang điện trên mái được cho là một giải pháp phát triển bền vững với những ưu điểm vượt trội như là chính phủ không phải đầu tư thêm hệ thống đấu nối, nguồn vốn đầu tư xuất phát từ các tổ chức phi chính phủ, cá nhân.  Các hệ thống điện mặt trời trên mái giải quyết được nhu cầu sử dụng điện của hộ gia đình và giảm chi phí năng lượng sản xuất.
Theo thống kê của IEA các hệ thống năng lượng mặt trời quang điện trên mái trong  hai năm từ năm 2015 đến năm 2017 tăng vượt bậc về công suất lắp đặt trên toàn cầu nhưng trong năm 2018 giảm nhẹ. Hình 1.2 hiện trạng công suất lắp đặt điện mặt trời quang điện trên mái và các trang trại điện mặt trời quang điện.

Hình 1.2. Hiện trạng các hệ thống điện mặt trời quang điện áp mái và các dạng khác.
Ở các quốc gia thuộc khối Đông Nam Á, tình hình phát triển điện mặt trời quang điện có những tăng trưởng đáng kể. Như tại Thái Lan, điện từ năng lượng mặt trời quang điện đạt công suất 167MW vào năm 2011 và 690,6 MW vào năm 2013, công suất lắp đặt dự kiến sẽ tăng lên 2000MW vào năm 2021. Tại Malaysia, năm 2012 đã có 46,81MW điện từ năng lượng mặt trời đang hoạt động và  110,18MW đang xây dựng, dự kiến đến năm 2050 sẽ tăng lên 9GW. Tại Indonesia, điện từ năng lượng mặt trời được lắp đặt chỉ đạt 14MW vào năm 2011, nhưng số lượng này tăng lên 59MW vào năm 2013. Tính đến năm 2013, chính phủ Indonesia đang đấu thầu 80 dự án liên quan đến sự phát triển của các nhà máy điện mặt trời sẽ có công suất tổng cộng lên đến 140MW.  Tại Singapore, điện từ năng lượng mặt trời được lắp đặt chỉ đạt 3,7MW vào năm 2011 và tăng lên 5,26MW vào năm 2012 [3].
Tuy có sự tăng trưởng rất mạnh mẽ nhưng so với các nguồn năng lượng khác thì nguồn năng lượng mặt trời quang điện vẫn còn hạn chế. Theo báo cáo của REN21 [2] năng lượng tái tạo chiếm 26.2% trong đó các hệ thống quang điện chiếm 2.4%. Hình 1.3. Hiện trạng năng lượng tái tạo so với các loại năng lượng khác.
Hình 1.3. Hiện trạng các loại năng lượng tái tạo [2]

1.2 Tổng quan điện mặt trời hòa lưới tại Việt Nam.

a.    Các nguồn điện tại Việt Nam
Theo báo cáo thường niên của EVN đến hết năm 2018 [4] tổng công suất của các nguồn điện phát lên lưới điện quốc gia là 48573MW trong đó năng lượng tái tạo là 3476MW bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sinh khối. Tuy có sự tăng mạnh về năng lượng tái tạo nhưng so với bức tranh tổng thể vẫn còn khiêm tốn. Bảng 1.2 Tổng công suất các nguồn điện tính đến hết tháng 12 năm 2018.
Bảng 1.2 Tổng công suất các nguồn điện của Việt Nam @ 31/12/2018
Nguồn điện
Công suất lắp đặt (MW)
%
Thủy điện
17031
35.06
Năng lượng tái tạo ( Năng lượng mặt trời, gió, sinh khối, HPPs)
3476
7.16
Nhiệt điện than
18516
38.12
Nhiệt điện ga + nhiệt điện dầu
8978
18.48
Nhập khẩu
572
1.18
Tổng cộng
48573
100


b.    Năng lượng mặt trời tại Việt Nam:  
       Trước năm 2015 năng lượng mặt trời tại Việt Nam tương đối thấp. Các hệ thống điện mặt trời trên mái nối lưới đang trong gian đoạn khởi đầu, chưa có trang trại điện mặt trời nào tại Việt Nam. Tuy nhiên nhận thấy tiềm năng và lợi ích của năng lượng tái tạo và sự cạn kiệt của nguồn năng lượng hóa thạch, Chính phủ Việt Nam đã quyết định đẩy nhanh phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng mặt trời. Theo quyết định này, năng lượng mặt trời bao gồm cả nguồn tập trung lắp đặt trên mặt đất và nguồn lắp đặt trên mái nhà, dự kiến đưa tổng công suất nguồn điện mặt trời từ mức không đáng kể như hiện nay lên khoảng 850 MW vào năm 2020, khoảng 4.000 MW vào năm 2025 và khoảng 12.000 MW vào năm 2030. Điện năng sản xuất từ nguồn điện mặt trời chiếm tỷ trọng khoảng 0,5% năm 2020, khoảng 1,6% vào năm 2025 và khoảng 3,3% vào năm 2030 [4]. Gần đây, các dự án điện mặt trời đã được chính quyền các cấp phê duyệt đầu tư như: Nhà máy điện mặt trời Thiên Tân ở tỉnh Quảng Ngãi, công suất 19,2MW; Nhà máy điện mặt trời Tuy Phong công suất 30MW, Bim 1 công suất 30MW, Sông Lũy 1 công suất 39MW ở tỉnh Bình Thuận; Nhà máy điện mặt trời Thanh Hóa 1 ở khu kinh tế Nghi Sơn tỉnh Thanh Hóa, công suất 160MW, Nhà máy điện mặt trời Cát Hiệp ở tỉnh Bình Định, công suất 49,5MW v...v. Các công trình này khi đi vào hoạt động sẽ góp phần tích đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và giúp cho con người có thể sử dụng nguồn năng lượng mới thay cho năng lượng hóa thạch, góp phần bảo vệ môi trường.

     Tuy nhiên, những dự án điện mặt trời này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng năng lượng mặt trời Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/03/2016 về việc Quyết định điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 và Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg [6]quyết định về việc cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam ngày 11 tháng 04 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định tầm quan trọng của các nguồn năng lượng sạch trong việc đảm bảo điện cho phát triển kinh tế - xã hội gắn với môi trường.
         Theo đó, các nhà đầu tư về năng lượng đã tập trung đầu tư mạnh vào các dự án trang trại mặt trời, từ một Quốc Gia có công suất lắp đặt điện mặt trời thấp so với khu vực Châu Á, Việt Nam đã dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về công suất lắp đặt điện mặt trời. Theo số liệu cập nhật từ Trung Tâm Điều Độ Hệ Thống Điện Quốc Gia đến hết ngày 30 tháng 06 năm 2019 tổng số nhà máy điện mặt trời hòa lưới điện Quốc gia là 89 nhà máy với tổng công suất là 4439,5 MW trong đó 73 nhà máy điện thuộc quyền điều khiển của A0, 10 nhà máy điện thuộc quyền điều khiển của Ax và 6 nhà máy điện thuộc quyền điều khiển của PC. Hình 1.4 và 1.5 thống kê số lượng nhà máy điện mặt trời hòa lưới và sản lượng theo tuần tính đến hết ngày 30/06/2019.


 Hình 1.4 Số lượng nhà máy điện mặt trời hòa lưới@30/06/2019
Hình 1.5 Sản lượng theo tuần tính @30/06/2019
1.3 Tổng quan suất đầu tư hệ thống pin quang điện
Trong những năm gần đây với sự phát triển của công nghệ giá thiết bị cung cấp để xây dựng nhà máy điện mặt trời giảm dần theo các năm. Theo phân tích của ngân hàng thế giới, suất đầu tư các nhà máy điện mặt trời pin quang điện giảm từ 3.4 triêu USD/MW năm 2010 xuống 1.3 triệu USD/MW trong năm 2019 [8]. Hình 1.6 xu hướng suất đầu tư nhà máy quang điện trong 10 năm.
Hình 1.6. Suất đầu tư nhà máy pin quang điện tính đến năm 2019.
Bên cạnh đó, theo báo cáo của cơ quan năng lượng tái tạo quốc tế IRENA [9] suất đầu tư nhà máy điện mặt trời quang điện tùy thuộc vào các quốc gia. Theo đó, suất đầu tư của các quốc gia trong khối G20 trong năm 2018 thì Ấn độ là Quốc gia có suất đầu tư là thấp nhất 793,000 USD/MW và Quốc gia có suất đầu tư cao nhất là Ca na đa với mức chi phí đầu tư lên đến 2,427,000 USD/MW ( Bảng 1.3. Suất đầu tư nhà máy pin quang điện tại các quốc gia thuộc khối G20).
Bảng 1.3. Suất đầu tư nhà máy pin quang điện tại các quốc gia thuộc khối G20 @12/2018
STT
Quốc Gia
Suất đầu tư [USD/MW]
STT
Quốc gia
Suất đầu tư
[USD/MW]
1
Ấn độ
793
11
Ắc hen ti na
1433
2
Ý
870
12
Me xi cô
1481
3
Trung quốc
879
13
Bra-zin
1519
4
Pháp
1074
14
Mỹ
1549
5
Đức
1113
15
Úc
1554
6
Indonesia
1192
16
Nam Phi
1671
7
Thổ nhỉ kỳ
1206
17
Nhật Bản
2101
8
Ả rập sau đi
1267
18
Nga
2302
9
Hàn Quốc
1326
19
Ca na đa
2427
10
Anh
1362
20


Tuy nhiên suất đầu tư của dự án điện mặt trời quang điện phụ thuộc vào nhiều yếu tố như là: Chi phí thiết bị, chi phí xây dựng, chi phí quản lý dự án. Chi phí pin quang điện được cho là ảnh hưởng trực tiếp đến suất đầu tư dự án. Theo số liệu của IRENA [9] trong năm năm 2013 – 2018 giá pin quang điện giảm mạnh. Hình 1.6.  Chi phí mô đun pin quang điện tại một số quốc gia trong gian đoạn 2013-2018.

Hình 1.6 Giá mô đun quang điện (theo công nghệ sản xuất) tại một số quốc gia trong giai đoạn 2013-2018 @12/2018 [9]

Hơn nữa, các dự án điện mặt trời quang điện kết nối lưới mục tiêu chính là bán cho lưới điện Quốc gia tùy thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia sẽ có giá bán điện khác nhau. Theo chính sách của Việt Nam hiện tại giá bán điện là 0.0985 USD/kWh tương đương 2035 động/kWh. Bảng 1.4 liệt kê giá bán điện 1 số quốc gia. 
Bảng 1.4 giá bán điện tại một số quốc gia
Giá bán điện
Giá bán điện[USD/kWh]
Số năm hỗ trợ
[Năm]
UK
0.052
20
China
0.059
20
Denmark
0.086
1-10
0.058
10-20
Germany
0.131
20
Italy
0.182
20
Malaysia
0.185
25
Thailand
0.21
25
France
0.263
20
Japan
0.297
21
Vietnam
0.0985
25
Tài liệu tham khảo
[1]  IEA-PVPS Reporting Countries, Becquerel Institute (BE), RTS Corporation Snapshot of Global Photovoltaic Markets (1992–2016), IEA PVPS Task 1, International Energy Agency Power Systems Programme, Report IEA PVPS T1-35-2019
[2] Sawin, J.L., et al., Renewables 2017 Global Status Report.
[3] Ismail, A.M., et al., Progress of solar photovoltaic in ASEAN countries: A review.
[4]EVN, Báo cáo thường niên, 2018
[5] Thủ Tướng Việt Nam, Số 2068- Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. 25-11-2015
[6] Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 11
[7] Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc Gia, “Báo cáo tổng kết công tác đóng điện và vận hành các công trình mới nguồn điện mặt trời đến ngày 30/06/2019”,  Số 2511/ĐĐQG-ĐĐ, ngày 15 tháng 07 năm 2019.
[8] Utility-Scale Solar Photovoltaic Power Plants, https://www.ifc.org
[9] IRENA (2019), Renewable Power Generation Costs in 2018, International Renewable Energy Agency, Abu Dhabi.
[10] Thanapol Tantisattayakula, Premrudee Kanchanapiya. Financial measures for promoting residential rooftop photovoltaics under a feed-in tariff framework in Thailand.  Energy Policy 2017 260:269-109.