Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon 2019 cho tỉnh Bình Phước

Cuộc thi nhằm kích hoạt sự sáng tạo, đam mê công nghệ của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.

Dự án điện mặt trời 30.7MWp tại Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột là một trong những địa điểm có bức xạ mặt trời tương đối tốt tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiệt độ trung bình tương đối thấp ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất của hệ thông pin quang điện.

Cuộc thi Shell Eco_marathon Europe tại London

Cuộc thi Shell eco_marathon tại London là một cuộc thi thiết kế xe tiết kiệm nhiên liệu dành cho học sinh, viên viên lớn nhất thế giới.

Tham gia khóa tập huấn tại Phần Lan

Khóa học phương pháp sư phạm số nằm trong khuôn khổ dự án EMVITET.

Tham gia tập huấn giáo dục 4.0 tại Phần Lan

Phần Lan là một đất nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2019

Hồ sơ điện tử

Bài viết này trình bày định nghĩa và những giá trị mà hồ sơ điện tử mang lại cho sinh viên trong môi trường đại học. Hồ sơ điện tử là một nguồn dữ liệu điện tử được phát triển dựa trên nền tảng web do chính sinh viên phát triển. Hồ sơ điện tử của sinh viên là nơi lưu trữ những bài viết phản hồi sự hiểu biết của mình về các trải nghiệm các môn học trong suốt quá trình tham gia học tập thông qua các bài viết, các hình ảnh, video. Từ những bài viết này sinh viên thể hiện năng lực của bản thân đối với xã hội.
 Ngoài ra hồ sơ điện tử được ứng dụng để đánh giá năng lực cùa sinh viên về một khóa học trong khoảng một thời gian. Mục đích của việc này giúp cho giảng viên theo dõi sự tiến bộ của sinh viên. Sau khi kết thúc thời gian học tại trường hồ sơ điện tử là một minh chứng quang trọng thể hiện năng lực của sinh viên đối với nhà tuyển dụng. Bên cạnh đó, một trong những nghiên cứu của tiến sĩ Jade McKa cho rằng [1] hồ sơ điện tử  đang ngày càng được xem là một công cụ không chỉ cải thiện trải nghiệm học tập của sinh viên mà còn tăng cường khả năng việc làm, phát triển nghề nghiệp và bản sắc nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp. 
Giá trị của hồ số điện tử đối với sinh viên: 
Một thống kê của trường cao đẳng TTU chỉ ra những ưu điểm của hồ sơ điện tử như hình 1.
Hình 1. Các ưu điểm của hồ sơ điện tử (Nguồn: TTU college)
Từ những quang điểm thức tế cho thấy hồ sơ năng lực điện tử có những ưu điểm sau:

1.Nhận thức của sinh viên đối với việc học
2. Đánh giá việc học
3. Suy ngẫm và lưu trữ việc học
4. Chia sẻ nhận thức về việc học cùa sinh viên đối với xã hội.
5. Nhà tuyển dụng hiểu về năng lực của sinh viên từ đó sắp xếp công việc phù hợp.

Theo tôi hồ sơ điện tử là một công cụ tuyệt vời để giảng viên đánh giá năng lực của sinh viên, áp dụng hồ sơ điện tử giúp cho giảng viên đánh giá năng lực của sinh viên một cách chính xác hơn. Bên cạnh đó, hồ sơ điện tử giúp cho sinh viên thể hiện năng lực cũng như điểm mạnh của sinh viên đối với nhà tuyển dụng từ đó sinh viên dễ dàng tìm kiếm việc làm phù hợp với năng lực của bản thân.

Tài liệu tham khảo:
[1]https://globalfocusmagazine.com/eportfolios-what-employers-think/



Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2019

Các yếu tố để thiết kế một lớp học trực tuyến hiệu quả

Bài viết này giới thiệu các công cụ số áp dụng để triển khai lớp học số và các bài giảng trực tuyến được giới thiệu bởi Dr. Shane Dixon đến từ trường ĐH Arizona State.
Trước khi đi vào giới thiệu công nghệ hỗ trợ lớp học số, cần phân tích điều gì làm nên sự thành công của các khóa học trực tuyến. Tôi tổng hợp và phân tích một số các ý kiến về các vấn đề liên quan đến lớp học online.
Tại sao phải thiết kế các bài giảng trực tuyến?
Theo số liệu thống kê hiện tại chỉ có khoảng 10% sinh viên được tiếp cận các khóa học chất lượng từ các trường ĐH hàng đầu thế giới [1]. Do đó, các lớp học trực tuyến sẽ giải quyết được bài toán nói trên. Ngoài ra, các lớp học trực tuyến được xem như cách học mới và giảng viên là một tài sản tri thức vô giá và cần phải chia sẻ kiến thức của giáo viên một cách rộng rãi và tiếp cận được nhiều sinh viên. Nói một cách khác có thể tạo ra đòn bẩy để phát triển nền kinh tế.
Taị sao các lớp học trực tuyến thất bại?
Để xây dựng được lớp học trực tuyến cần phân tích những yếu tố dẫn đến sự thât bại của các lớp trực tuyến như là: Không có nhiều cơ hội tương tác trực tiếp, khó tạo ra động lực cho sinh viên... 
từ đó dẫn đến ti lệ hoàn thành các khóa học trực tuyến không cao. Theo số liệu thống kê số lượng sinh viên hoàn thành các khóa học trực tuyến [2] nằm trong khoảng từ 5-15% (hình 1)so với số lượng nhập học.  Như vậy, có từ 85 -95% sinh viên không thể  hoàn thành  khóa học trực tuyến vậy điều gì dẫn đến việc này ? Một khảo sát nhỏ cho thấy đa số sinh viên cho rằng giảng viên trên các khóa học trực tuyến rất chán, vậy vấn đề cốt lõi vẫn là cách tổ chức lớp học của giảng viên. 
Một vấn đề nữa đó là khi thiết kế các lớp học trực tuyến rất khó khăn trong cách áp dụng kiến thức trong môi trường thực tế. Vậy làm thế nào để thiết kế các lớp học trực tuyến tránh sự nhàm chán? Giảng viên cần tuân thủ 3 yếu tố: Nội dung phù hợp, tính tương tác, giáo viên phù hợp. 
Hình 1. Tỉ lệ hoàn thành khóa học từ các lớp học trực tuyến [2]
Giảng viên phù hợp:
Theo nghiên cứu của tiến sĩ Nalini (1993) [3] sinh viên có khả năng dự báo chính xác giáo viên dạy tốt hay không tốt trong một khoảng thời gian 6 giây. (Nguồn năng lượng và ánh mắt của giảng viên). Trong 6 giây đầu tiên người giảng viên cần tạo được niềm tin cho sinh viên và truyền nguồn năng lượng làm cho sinh viên có niềm tin vào giảng viên của mình.
Năng lượng của giảng viên trong lớp học online
 Các lớp học trực tuyến rất nhàm chán do đó cần người giảng viên phải tràn đây năng lượng. Một ví dụ đơn giản cho thấy sự khác biệt gữa giảng viên đại học và giáo viên tiểu học. Giáo viên tiểu học họ có rất nhiều kỹ thuật tương tác với học sinh như là tổ chức trò chơi, tương tác trực tiếp.. nhưng nội dung truyền đạt không nhiều. Trong khi đó. giảng viên đại học có rất nhiều nội dung muốn truyền đạt cho sinh viên, nên có ít thời gian tương tác với sinh viên. Như vậy, cần phải đưa ra quyết định tương tác hoặc truyền đạt nhiều nội dung cho sinh viên. Để giải quyết bài toán nội dung hay tương tác, giảng viên cần kết hợp giảng dạy trực tiếp và các công cụ trực tuyến. Bản thân tôi áp dụng hệ thống Moodle và phương pháp lớp học đảo ngược (kết hợp phương pháp giảng dạy trực tuyến và gặp trên lớp) để tăng tính tương tác với sinh viên.

Các công cụ trực tuyến trong lớp học online
Các công cự số tương ứng cho các hoạt động giảng dạy online bao gồm công cụ đánh giá online, hợp tác, tài liệu, tương tác, tự học thiết kế các bài kiểm tra. Hình 2 mô tả các công cụ tương ứng các hoạt động trong giảng dạy.
HÌnh 1. Các công cụ số tương ứng cho từng hoạt động
Các công cụ được tổng hợp và chia sẻ tại website của đại học ASU.

Theo tôi, vấn đề cốt lõi trong việc thiết kế bài giảng trực tuyến hiệu quả đó là nguồn năng lượng và các kỹ năng tương tác của giảng viên. Nếu người giảng viên tràn đầy năng lượng sẽ khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào lớp học của mình. Các công cụ giới thiệu chỉ hỗ trợ giảng viên trong việc thiết kế bài giảng cũng như thiết kế các nền tảng tương tác, điều quan trọng nhất vẫn là giảng viên sử dụng phương pháp gì,  giảng viên mong muốn sinh viên đạt được điều gì sau khi hoàn thành khóa học. Trong hiện trạng thực tế việc giảng dạy trực tuyến hoàn toàn tại Việt Nam chưa có tính khả thi cao nhưng việc kết hợp giữa trực tuyến và giảng dạy trực tiếp có tính khả thi cao.


Thứ Năm, 12 tháng 12, 2019

Dự án EMVITET


EMVITET là dự án hỗ trợ phát huy năng lực của giảng viên Việt Nam được tài trợ bởi  Chương trình Erasmus của Liên minh Châu Âu.

EMVITET đặt mục tiêu tạo ra hệ sinh thái học tập mới cho giáo dục tại Việt Nam, dựa trên học tập lấy sinh viên làm trung tâm, giáo dục dựa trên năng lực, hợp tác và kết nối mạng trong môi trường kỹ thuật số cũng như chia sẻ kiến ​​thức thông qua các cộng đồng thực hành.

Trong dự án EMVITET, những người tham gia sẽ phát triển năng lực của họ trong các lĩnh vực sau:

Sư phạm: Thiết kế và triển khai học tập dựa trên năng lực và lấy học sinh làm trung tâm để phù hợp với nhu cầu của ngành 4.0
Công nghệ: Sử dụng công nghệ hiệu quả để tăng cường và chuyển đổi các hoạt động dạy và học theo Giáo dục 4.0
Hệ sinh thái học tập: Tham gia với các cộng đồng trong giáo dục và công nghiệp để tạo kết nối và hỗ trợ cộng tác
Dự án EMVITET tạo ra các hội thảo và tài liệu cho giáo viên học tập và xây dựng cho giáo viên các năng lực mới. Hệ sinh thái học tập mới cho phép các tổ chức giáo dục đại học và dạy nghề tăng cường mạng lưới giáo dục và công nghiệp của họ. Dự án cũng cải thiện cấu trúc giáo dục để cung cấp năng lực phù hợp cho sinh viên, lực lượng lao động tương lai trong thị trường lao động. Các tổ chức giáo dục và giáo dục đại học hoạt động hiệu quả với thế giới công việc tạo ra cầu nối và tăng sự liên quan của giáo dục [emvitet.org]

Thời gian thực hiện dự án: 15.1.2019-14.01.2022

Tổ chức phối hợp: Đại học Khoa học Ứng dụng Häme (HAMK), Phần Lan

Tôi tham gia dự án với tư cách là thành viên cốt lõi (Core team).  Giai đoạn đầu chúng tôi được học tập tại Phần Lan 3 tuần.  Tại Phần Lan chúng tôi được tiếp xúc với môi trường làm việc mới với rất nhiều điều mới mẻ như là: Môi trường học tập sáng tạo, phương pháp sư phạm số, làm thế nào để tổ chức lớp học lấy sinh viên làm trung tâm và học tập dựa trên năng lực. Một số hình ảnh trong chuyến học tập tại Phần Lan.





Sau khi học tập tại Phần Lan chúng tôi trở về nước và tổ chức các hội thảo để lan tỏa cũng như thúc đẩy sự thay đổi của giảng viên trong Trường. Bước đầu chúng tôi nhận được những tín hiệu tích cực từ các Khoa với các yêu cầu tổ chức thêm các hội thảo chi tiết cho từng nội dung như là phương pháp đánh giá thông qua hồ sơ online, các công cụ số, phương pháp sư phạm số. Một số hình ảnh trong các buổi hội thảo tại Trường.




Tôi tin rằng tác động của dự án đến sự thay đổi về nhân thức của giảng viên sẽ là rất tích cực. Với nền tảng khoa học công nghệ phát triển như ngày nay khi thói quen của con người đã thay đổi, tôi nghĩ rằng nếu chúng ta không thay đổi để thích nghi thì chúng ta sẽ không theo kịp sự phát triển của thời đại.
Các cơ quan truyền thông đưa tin về dự án:
https://lhu.edu.vn/21/34723/Day-hoc-dua-tren-nang-luc-huong-den-Giao-duc-40.html
https://lhu.edu.vn/21/34682/Giang-vien-khong-thay-doi-va-Cai-ket.html
https://lhu.edu.vn/21/33490/Cung-EMVITET-Phan-Lan-tang-cuong-nang-luc-cho-giang-vien-thoi-40.html
http://baodongnai.com.vn/xahoi/201912/tao-he-sinh-thai-moi-trong-giao-duc-2978257/
https://tuoitre.vn/cach-giang-day-moi-khuyen-khich-sinh-vien-tao-ho-so-truc-tuyen-20191202142506031.htm

Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon Bình Phước

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của giảng viên trong trường ĐH đó là hỗ trợ cộng đồng. Đại Học Lạc Hồng là một trong những đơn vị tạo được tiếng vang trong các cuộc thi Khoa Học Công Nghệ như là thi xe tiết kiệm nhiên liệu, Robocon.v.v. Trong những cuộc thi đó, tôi là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của cuộc thi xe tiết kiệm nhiên liệu tại Trường ĐHLH. Đến thời điểm hiện tại cuộc thi xe tiết kiệm nhiên liệu đã 05 lần vô địch Châu Á và vinh hạnh được tham gia cuộc thi Tay đua thế giới tại Anh vào tháng 6/2019.
Hình 1. Đội xe ĐHLH tham gia giải tay đua thế giới tại anh

Hình 2. Chụp hình với giám đốc hãng xe Ferrari lừng danh tại Vương Quốc Anh
Từ những tiếng vang đó chúng tôi được sự tin tưởng của SKHCN tỉnh Bình Phước mời hợp tác tổ chức cuộc thi Minirobocon Bình Phước. Chúng tôi cùng với tỉnh cho rằng tỉnh Bình Phước với thế mạnh là cây điều nên chúng tôi chọ chủ đề là "Chinh Phục Quả Điều Vàng''. Hột số hình ảnh tại cuộc thi.

Hinh 1. Buổi đầu họp bàn tổ chức cuộc thi tại SKHCN tỉnh Bình Phước
Hình 2. Chụp hình lưu niệm với Giám đốc SKHCN.
Hình 3. Giải thích cơ cấu Robot với Trưởng Ban Tổ Chức Cuộc Thi
Hình 4. Trao giải tại cuộc thi
Hình 5. Chụp hình lưu niệm với đội vô địch cuộc thi Minirobocon Bình Phước
Hình 6. Chụp hình lưu niệm với ban tổ chức cuộc thi

Hình 7. Chụp hình lưu niệm với ban tổ chức cuộc thi
Tôi cho rằng cuộc thi đã mang lại nhiều điều hứng khởi cho học sinh, sinh viên tại Tỉnh Bình Phước. Bản thân tôi cảm thấy tự hào vì đã góp một phần nhỏ công sức của mình tạo nên niềm hứng khởi và đam mê khoa học của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.
Phim mô phỏng chủ đề cuộc thi:



Lời cảm ơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn SKHCN tỉnh Bình Phước đã tin tưởng trao trọng trách cho tôi và các cộng sự. Cảm ơn Ban Giám Hiệu trường ĐHLH đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, tiển bạc để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ này. Bên cạnh đó,  tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Văn Tân là cầu nối tạo điểu kiện hợp tác giữa SKHCN tỉnh Bình Phước và Đại Học Lạc Hồng.

Các bài viết về cuộc thi:

https://lhu.edu.vn/21/34431/DH-Lac-Hong-va-nhung-an-tuong-quanh-cuoc-thi-Robocon-mini-tinh-Binh-Phuoc.html
https://lhu.edu.vn/21/34737/Hoan-thanh-nhiem-vu-co-van-to-chuc-cuoc-thi-Robocon-mini-Binh-Phuoc.html
https://laodongtre.laodong.vn/dao-tao/binh-phuoc-thi-sang-tao-robocon-chinh-phuc-qua-dieu-vang-769536.ldo
https://vnanet.vn/vi/anh/anh-thoi-su-trong-nuoc-1014/be-mac-cuoc-thi-sang-tao-robocon-mini-tinh-binh-phuoc-4240466.html

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

Mô hình năm giai đoạn trong thiết kế bài giảng online

Một trong những khó khăn trong thiết kế bải giảng online không phải vấn đề về sử dụng công cụ mà phương pháp sư phạm được lưa chọn. Trong bài viết này giới thiệu mô hình năm bước do Gilly Salmon đưa ra (Hình 1 và Hình 2)

Hình 1. Mô hình năm giai đoạn của Gilly Simon 

Theo đó, mô hình của Gilly Simon gồm năm giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thúc đẩy cá nhân, trong giai đoạn này làm thế nào để thúc đẩy sinh viên tham gia vào lớp học online. Một trong những điều tiên quyết  đó là sinh viên phải dễ dàng truy câp vào bài giảng online của giảng viên. Một số hệ thống E_learning miễn phí đáp ứng được yêu cầu của bước này là: Moodle và Google classroom.
Giai đoạn 2: Thiết lập môi trường tương tác  trực tuyến. Tạo nhóm  để có sự tương tác giữa sinh viên và sinh viên, sinh viên và giáo viên. Trong giai đoạn này giáo viên có thể để sinh viên chủ động chọn các thành viên trong nhóm hoặc giáo viên giới thiệu nhóm. Bên cạnh đó cần có những nghuyên tắc của nhóm ví dụ mục tiêu của nhóm là gì, vai trò của các thành viên trong nhóm.
Giai đoạn 3: Người học làm việc cá nhân, tiếp xúc với các tài liệu mà giáo viên đưa ra. Phần này đòi hỏi người dạy cần có kế hoạch cụ thể để chắc chắn rằng sinh viên của mình tham gia vào các tài liệu bằng cách ra các câu hỏi nhỏ nếu người học không trả lời được câu hỏi thì không tiến hành được bước tiếp theo. Lúc này người dạy đóng vai trò là người tạo ra các nhiệm vụ. Ngoài ra sinh viên sẽ trao đổi thông tin lẫn nhau, phân công nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên đề ra.
Hình 2. Mô hình 5 giai đoạn trong xây dựng bài học online
Giai đoạn 4: Thảo luận và dưa ra các ý kiến trên các diễn đàn. Từ kết quả của thảo luận tích cực sinh viên sẽ tổng hợp và đưa ra các kiến thức mới.
Giai đoạn 5: Sinh viên xem lại các kiến thức đã học, học hỏi lẫn nhau thông qua các cuộc thảo luận trên diễn đàn từ đó tổng hợp được những kiến thức cần để đạt được mục tiêu đề ra.

Tôi nghĩ rằng, trong môi trường lớp học số ngày nay việc áp dụng mô hình năm giai đoạn của Gilly Salmon là khả thi nhưng cần tùy biến cho phù hợp với văn hóa và cách học của sinh viên Việt Nam. Đối với việc tạo các cuộc thảo luận trên môi trường ảo cần phải tạo động lực để sinh viên hợp tác và tích cực đưa ra ý kiến thảo luận. Trong trường hợp chỉ áp dụng được mô hình Gilly Salmon trong hai giai đoạn đầu  đến giai đoạn thứ 3 cần có  sự hỗ trợ của giảng viên trên lớp để sinh viên tích cực thảo luận và tổng hợp kiến thức mới. Các kết quả thảo luận sẽ được chia sẻ lên diễn đàn các bạn cùng lớp sẽ xem lại các kiến thức mới trên môi trường ảo từ đó rút ra được những kiến thức mới.


Giáo dục 4.0: Video tương tác.

Bài viết này trình bày lợi ích của việc thiết kế bài giảng dựa trên video tương tác. Video tương tác là một trong những tài liệu giảng dạy dễ dàng tiếp cận với người học.
Trong những thập kỷ gần đây với sự phát triển về công nghệ. Thói quen của người học đã thay đổi, người học mong muốn một cách học mới linh hoạt hơn. Người học có thể học mọi lúc mọi nơi và bất cứ môi trường nào mà người học cảm thấy thoải mái. Việc thiết kế bài giảng dựa trên các video không còn là một điều xa xỉ với người dạy khi mà các công cụ trực tuyến hỗ trợ một cách tích cực. Một trong những công cụ tôi dùng để thiết kế bài giảng video là Powtoon (https://www.powtoon.com/home/).Video bên dưới giới thiệu các thực hiện và thiết kế bài giảng dựa trên các video.

Hình 2. Video giới thiệu Video tương tác
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tương tác với người học thông qua các video clip. Giảng viên có thể xây dựng các câu hỏi tương tác ngắn ngay trong bài giảng video của mình hoặc sau khi thiết kế video sử dụng công cụ trong hệ thống Moodle mới để chèn các câu hỏi tương tác vào bài giảng.
Việc xây dựng các video tương tác giúp cho người dạy dễ dàng áp dụng phương pháp lớp học đảo ngược. Những kiến thức chiếu theo thang đo mức độ nhận thức Bloom ở mức độ nhận thức nhớ và hiểu người học dễ dàng lĩnh hội thông qua video tương tác. Bên cạnh đó, người học có thể xem lại nhiều lần cho đến khi đạt được mục đích. 

Tôi nghĩ rằng, việc thiết kế một video tương tác trong ngày nay không còn là vấn đề đối với người dạy nhưng điều quan trọng nhất đối với người dạy đó là phương pháp sư phạm trong trường hợp này là gì? Tôi thường áp dụng hình thức này cho phương pháp lớp học đảo ngược. Theo đó, các kiến thức ở mức nhớ và hiểu người học có thể tự học thông qua các video của tôi, lên lớp tôi dành thời gian cho các hoạt động như là thảo luận, tổng hợp kiến thức. Thông qua hình thức này tôi có thể đạt được mục tiêu mong đợi.



Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

Hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống đảm bảo chất lượng

Tôi được lời mời tham gia Hội thảo về  Văn Hóa Chất lượng trong giáo dục,  diễn ra tại Đại Học Việt Đức. Đến tham dự hội thảo có nhiều nhà nghiên cứu về chất lượng Đại Học tại khu vực phía nam như là: Đại Học Quốc Gia TPHCM, Đại Học Tôn Đức Thắng, TT Kiểm Định Đại Học Quốc Gia và Đại Học Lạc Hồng.
Buổi thảo luận được giáo sư Harald Gilch đến từ Đại Học Consul, Đức hướng dẫn. Có nhiều quan đểm về đảm bảo chất lượng được các diễn giả tham gia hội thảo đưa ra như là Đảm bảo chất lượng phải có hệ thống và hoạt động theo chu trình PDCA làm thế nào để đạt được mục tiêu và sứ mạng của trường Đại Học đề ra. Kết quả thảo luận của các nhóm như hình 1.

HÌnh 1. Kết quả thảo luận của các nhóm về chủ đề QA và QM

Theo tôi QA là một quy trình nhỏ vận hành theo PDCA để làm thế nào đạt được 1 mục tiêu chất lượng. Còn QM là một hệ thống vận hành theo chu trình cải tiến liên tục để làm thế nào đạt được sứ mạng của nhà trường.



Hình 2. Thảo luận làm thế nào để thực hiện quy trình ĐBCL
Tôi cho rằng đối với môi trường giáo dục việc cải tiến liên tục là của tất cả nhân viên, giảng viên trong trường. Mỗi một thành viên chỉ cần làm tốt công việc của họ và tuân thủ theo quy trình PDCA  thì việc đưa ngôi trường của mình tiến về phía trước không còn là một điều khó khăn nữa. 

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2019

A wireless visualization monitoring, evaluation system for commercial photovoltaic modules solely in MATLAB/Simulink environment

This paper proposes a wireless photovoltaic (PV) visualization monitoring, evaluation, and fault detection system based on the STM32F4DISCOVERY board with Bluetooth data transmission in the MATLAB/Simulink platform. All of the irradiance, the cell temperature, voltage, and current of PV devices are acquired through the microcontroller-based DAQ board. These measurements data are transferred to a host computer by both Bluetooth slave module and Bluetooth master one built in a laptop. These measurement data are visually displayed in the form of dashboard in the MATLAB/Simulink environment and are simultaneously input to PV model for theoretical simulation. The functions of evaluation and fault detection for PV modules under practical working conditions are conducted and displayed at the same software platform.



link: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0038092X16305084

A Method to Estimate the Yield of Photovoltaic Power Plant Solely in MATLAB/Simulink

The Yield of photovoltaic power plant grid-connected depends upon seasonable variation of solar radiation, system loss, soiling loss, and loss of inverter. This paper presents a method to estimate the yield of photovoltaic power plant solely in MATLAB/Simulink. The yield of photovoltaic power plant grid-connected has been developed based on the photovoltaic model, loss model. In this case, the 1MW solar power plant connected in the grid in three locations in Vietnam have been simulated with the weather season variable and compared with PVGIS software. From the result, the total yield of photovoltaic power plant connected into the grid is range 1180.16 to 1247.42 MWh/Year with the losses system is 28% including losses of system and irradiance losses. Furthermore, the gap between this systems compared with PVGIS software is range –1.47 to 4.64 MWh/Month.


link:
https://ieeexplore.ieee.org/abstract/document/8823491

Embedded photovoltaic monitoring device, system and method

An embedded PV monitoring device comprises a data receiving unit, a processing unit, a simulating unit and an evaluating unit. An embedded PV monitor system comprises a PV unit, a sensing unit and an embedded PV monitoring device. An embedded PV monitor method mainly utilizes the monitoring device to receive voltage and current parameters of the PV module and an environment working parameter. An output current and an output power of the PV module can be actually calculated, while the output current and the output power of the PV module can be simulated and estimated according to the voltage parameter and the environment working parameter. Thus, the field test monitoring and evaluating on the PV module can be automatically performed and a warning message can be timely outputted. This is advantageous to the detection of the yield of the PV module and the increase of the production quality.


link
https://patents.google.com/patent/US20170149380A1/en

Self-sufficient energy recycling of light emitter diode/thermoelectric generator module for its active-cooling application

Abstract

This paper presents the energy recycling and self-sufficient application of a novel high-power light emitting diode integrating with a thermoelectric generator module. The proposed lighting module in which a thermoelectric generator device is sandwiched between light emitting diode device and heat sink autonomously recycles the waste heat to self-sufficiently support for its active cooling with an electrical fan. The start-up responses of illuminance, temperature, current and power for the proposed module were evaluated through experimental measurement. The corresponding mathematical model was derived and simulation model was built using MATLAB/Simulink for verification. The illuminance, electrical, and thermal performances have a close agreement between experiment and simulation results. The technological viability about both autonomous operation and self-sufficient energy recycling for the novel module with the active cooling was validated. Compared with passive-cooling devices, the proposed module declines the working temperature and improves illuminance simultaneously.

link:

Công nghệ lightboard trong giáo dục đại học

Ngày nay, khi thói quen học tập của người học thay đổi, người học muốn học tập một cách linh hoạt mọi lúc  mọi nơi, và trên các thiết bị di động. Dựa trên  công nghệ điện toán đám mây các công cụ hỗ trợ dạy học, quản lý học tập ra đời. Có nhiều phương pháp để xây dựng bài giảng trực tuyến.  Trong bài viết này trình bày công nghệ lightboard, một công cụ hỗ trợ giảng dạy từ xa và học tập trực tuyến.
Công nghệ lightboard là gì?
Công nghệ lightboar bao gồm một bảng kính trong suốt, bút màu viết lên bảng kính có thể xóa được. ngày dạy sẽ viết và vẽ nội dung bài giảng lên một bảng trong suốt trước một máy quay trong một phòng với nền đen.  Các đèn LED được bố trí xung quanh bảng kính trong suốt để đảm bảo chiếu sáng cho bảng.
Ứng dụng công nghệ lightboard trong giảng dạy
Sau khi hoàn thành bài giảng sản phẩm là một video clip. Video bài giảng này sẽ được tải lên các hệ thống quản lý học tập. Người học sẽ truy cập và xem bải giảng trả lời các câu hỏi nhỏ mà người dạy đã soạn trước hoặc  hỏi trong video clip. Video bên dưới là một ví dụ sử dụng công nghệ lightboard.

Trong quá trình tham gia tập huấn tại Phần Lan tôi được trải nghiệm thiết kế bài giảng online dựa trên công nghệ lightboard. Tôi cho rằng, việc kết hợp công nghệ và phương pháp sư phạm của giảng viên sẽ làm cho người học hứng khởi và chủ động hơn trong việc học của mình.

Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo trong giáo dục đại học

Bài viết này trình bày một cách ngắn gọn định nghĩa về chuẩn đầu ra của của chương trình đào tạo giáo dục đại học. Trong xây dựng chương trình đào tạo giáo dục đại học, người xây dựng chương trình đào tạo cần xây dựng chuẩn đầu ra của chương trình sao cho đáp ứng được yêu cầu của các bên liên quan và phải đo lường được. Bên cạnh những yếu tố nêu trên, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cần phải phù hợp với mục tiêu của chương trình đào tạo và tầm nhìn sứ mạng của Khoa của trường. Định nghĩa về chẩn đầu ra và cách phát biểu chuẩn đầu ra được trình bày như video sau:
Ví dụ: Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo ngày Công Nghệ Kỹ Thuật Điện -Điện tử
1. Giải thích được những lý thuyết cơ bản về kiến thức xã hội
2. Áp dụng các kiến thức toán, lý, khoa học tự nhiên, kỹ thuật điện, điện tử để giải các bài toán trong lĩnh vực Kỹ thuât điện – Điện tử
3. Truyền đạt ý tưởng và giao tiếp hiệu quả bằng văn bản, hình ảnh và lời nói về các hoạt động trong lĩnh vực Kỹ thuật điện - Điện tử
4. Áp dụng các kỹ thuật, kỹ năng, trang thiết bị và công cụ hiện đại để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực Kỹ thuật điện - Điện tử
5. Nhận biết, phân tích, tổng hợp và giải quyết các vấn đề Kỹ thuật điện - Điện tử
6. Thiết kế, cải tiến các hệ thống Điện – Điện tử dân dụng và công nghiệp
7. Đánh giá sự ảnh hưởng của các giải pháp công nghệ trong lĩnh vực Kỹ thuật điện -Điện tử đến môi trường, xã hội
8. Thể hiện tác phong chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp
9. Làm việc nhóm hiệu quả
10. Tham gia học tập suốt đời 
Theo tôi, việc xây dựng chuẩn đầu ra đúng cách và phù hợp với mục tiêu và sứ mạng của nhà Trường là rất cần thiết. Điều này giúp cho giảng viên hiểu được mình cần phải xây dựng bài giảng như thế nào cho phù hợp, sinh viên hiểu một cách rõ ràng mình được học những kỹ năng gì trong môn học nói riêng và trong chương trình đào tạo nói chung. Đối với doanh nghiệp và xã hội hiểu một cách rõ ràng về năng lực cũng như kiến thức và kỹ năng sinh viên của ngôi trường đó có thể đạt được ngay tại thời điểm tốt nghiệp.

x

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2019

Các công cụ số trong giảng dạy

Những năm gần đây khi mà xu hướng thay đổi phương pháp giảng dạy từ phương pháp truyền thống sang phương pháp dạy và học tích cực ngày càng rộng rãi, vấn đề đặt ra là làm thế nào áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng mức độ nhận thức.  Theo tháp phương pháp giảng dạy [1] thì phương pháp thuyết giảng chỉ tiếp thu vấn đề 10% mà thôi để đạt mức độ nhận thức cao hơn cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy như là thảo luận nhóm (50%), thực hành (75%)...
Hình 1. Tháp phương pháp giảng dạy [1]
Để thay đổi phương pháp giảng dạy như thảo luận để giải quyết vấn đề. Giảng viên cần áp dụng công nghệ để giảm thời gian thuyết giảng và tăng tính tương tác. Trong bài viết này giới thiệu một số công cụ hỗ trợ học tập.
Bảng 1. Các công cụ số hỗ trợ giảng dạy
Tên công cụ
Chức năng chính
Địa chỉ truy cập
Socrative
- Kiểm tra sự hiểu biết của người học bằng cách trả lời các câu hỏi.- Cung cấp cho giáo viên những phản hồi có giá trị và kịp thời
Poll Everywhere
- Thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm- Thu thập các phản hồi của người học thời gian thực- Phản hồi hiển thị theo dạng biểu đồ, hình ảnh, và văn bản được nhúng trong bài trình bày (Power Point)- Kết quả cập nhật trực tiếp cho tất cả người học trong lớp cùng xem
Kahoot
- Thiết kế các trò chơi phục vụ cho giảng dạy- Kiểm tra các kiến thức ở mức nhớ, hiểu ngay tại lớp học thông qua trò chơi.- Kích thích sự tham gia vào lớp học của người học.
Padlet
Bảng số trực tuyến. Người học, người dạy chia sẻ tài liệu, hình ảnh kết quả thảo luận.
Ví dụ: Ứng dụng Poll everywher trong khảo sát trước khi triển khai tập huấn các phần mềm hỗ trợ dạy học.
Hình 1. Kết quả tương tác bằng phần mềm poll everywhere

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Kinh nghiệm cải tiến liên tục trong công tác giảng dạy

Cải tiến liên tục trong công tác giảng dạy là một trong những quy trình để tăng chất lượng giảng dạy. Mỗi giảng viên  tự  đưa ra quy trình cải tiến liên tục cho môn học, buổi học của mình để từ đó  đưa ra những điểu chỉnh phù hợp cho buổi học và khóa học tiếp theo. Theo đó,  công cụ cải tiên liên tục đề xuất trong bài chia sẻ này là công cụ PDCA (Plan-Do-Check-Act).
Plan ( Lập kế hoạch) Giảng viên lập kế hoạch giảng dạy dựa trên chuẩn đầu ra môn học.
 Ví dụ: trong buổi học đặt ra chuẩn đầu ra là phân tich, nghĩa là sau khi học xong buổi học này sinh viên phải biết phân tích. Như vậy, giảng viên không thể tổ chức lớp học theo phương pháp thuyết giảng mà cần có kế hoạch tổ chức các hoạt động thảo luận để giải quyết vấn đề. Bên cạnh phương pháp truyền đạt, giảng viên cần lên kế hoạch các hoạt động trên lớp, phương pháp đánh giá phù hợp cho chuẩn đầu ra của buổi học.
Do (Thực hiện) Giảng viên triển khai các kế hoạch đã lên kế hoạch trước. Ví dụ ở bước kế hoạch giảng viên lên kế hoạch cho hoạt đông phân tích, ở bước này giảng viên tổ chức thảo luận một vấn đề và sinh viên cần phải thảo luận và đưa ra được kết luận. Bên cạnh đó, giảng viên triên khai các bước đánh giá thông qua các câu hỏi nhỏ hoặc đánh giá các kết luận mà sinh viên hoàn thành trong thảo luận nhóm. Cuối  mỗi khóa học giảng viên tạo các câu hỏi khảo sát để thu thập ý kiên của sinh viên về chất lượng buổi học, khóa học cũng như những điều chưa hài lòng cùa sinh viên.
Check (Kiểm tra): Sau khi có kết quả đánh giá của sinh viên giảng viên phân tích để tìm ra phần chưa đạt của buổi học, khóa học.
Act (Cải tiến): Sau khi có kết quả phân tích giảng viên rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho buổi học, khóa học tiếp theo.
Ví dụ: Triển khai buổi học môn Năng lượng mặt trời.
Kế hoạch giảng dạy:
Thực hiện giảng dạy:


Kiểm tra:
Căn cứ vào kết quả trả lời các câu hỏi Qizz, và feedback của sinh viên giảng viên sẽ liệt kê được những điểm mạnh và tồn tại của môn học của mình .Từ đó đưa ra kế hoạch điều chỉnh cho các buổi học tiếp theo.
Cải tiến: Đưa ra các nội dung cần điều chỉnh cho buổi học, khóa học tiếp theo.

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Quan điểm của nền giáo dục Phần Lan

Giáo dục Phần Lan là một trong những nền giáo dục được đánh giá là hàng đầu thế giới. Tôi may mắn được đại diện Trường Đai Học Lạc Hồng tham gia dự án EMVITET, dự án nhằm tạo hệ sinh thái giáo dục cho Việt Nam dựa trên triết lý lấy sinh viên là trung tâm, học tập dựa trên năng lực, hợp tác và kết nối trong môi trường số. Trải qua ba tuần sống và học tập tại Trường Đai Học Hamk, Phần Lan tôi đã tiếp cận và tìm hiểu một số điều thú vị về nền giáo dục này.

Hình 1. Các giáo viên Việt Nam tham gia học tập tại Phần Lan
Niềm tin: Thầy/ Cô tin vào sinh viên của mình, tin vào lãnh đạo của mình những người có tầm nhìn  đưa ra mục tiêu và định hướng để họ đi theo và đặc biệt họ tin vào đồng nghiệp của mình những người sẽ cùng mình thay đổi để phát triển.
Chấp nhận rủi ro:  Để có sự phát triển những người làm giáo dục chấp nhận những rủi ro nhận các dự án cùng với sinh viên tạo ra các sản phẩm cho doanh nghiệp. Những người làm giáo dục tại Phần Lan quan niệm rằng không ai có thể dạy cho sinh viên mình những sai lầm và làm thế nào để vượt qua sai lầm, chỉ có trải nghiệm của chính sinh viên mới có thể đúc kết được kinh nghiệm để vượt qua những sai lầm.

Khả năng thích nghi:  Trong giáo dục hiện đại thì khả năng thích nghi với các môi trường khác nhau là rất quang trọng, bởi vì khi sinh viên tốt nghiệp sinh viên sẽ làm việc ở các môi trường khác nhau và không có bất cứ mô hình mẫu nào để đào tạo cho sinh viên để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp ngay tại thời đểm tốt nghiệp. Do đó, cần phải đào tạo kỹ năng thich nghi với những môi trường làm việc khác nhau là điều rất cần thiết.
Sự tồn tại: Thầy Cô tại Phần Lan quan niệm rằng trong cùng một lúc chỉ có thể hoàn thành tốt một công việc. Do đó, Thầy/Cô không chấp nhận thói quen sinh viên tồn tại trong lớp học mà sử dụng thời gian đó cho mục đích khác.  Khái niệm tồn tại ở đây có nghĩa là mặc dù sinh viên đang trong lớp học nhưng họ đang tồn tại ở một nơi khác cái tồn tại trong lớp học chỉ là thể xác mà thôi.
Hợp tác: Họ đề cao tinh thần hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm để cùng nhau giải quyết vấn đề.
Trong suốt 3 tuần tại Phần Lan ngoài những điều thú vị bên lề tôi và nhóm còn tiếp thu được nhiều kiến thức mới như là cách triển khai lớp học với những cách khác biệt, các công nghệ trong giảng dạy, phương pháp sư phạm số và cách thức lên kế hoạch cho một buổi học online.

Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

Techno-Economic Analysis of Solar Power Plant Project in Binh Thuan, Vietnam

Abstract:
This paper aims to determine the important parameters of the solar power plant project located in Binh Thuan such as energy production, the number of solar panels, the number of the inverters and economic analysis. In this study, the solar power plant project with 1MW capacity installed and the location has the solar radiation from 1800 kWh/m 2 to 1900 kWh/m 2 per year is used to analyze. The PVSyst software was used to determine the energy production, the number of inverters, and the number of the solar panels. Furthermore, an economic model was proposed and used to identify the Net Present Value (NPV) with the discount rate 8% and 10%, Internal Rate of Return (IRR), Levelized Cost of Energy (LCOE) and payback years. From the results, the energy produced was around 1631MW per year, and NPV with discount rate 8% were beneficial, and LCOE was 21 cents USD per kWh. In addition, with the price to sell of electricity production to EVN was 9.35 cents, the Payback years was within in the range 9-12 years.



Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

PHÂN TÍCH KINH TẾ CHO HỆ THỐNG ĐIỆN MẶT TRỜI TRÊN MÁI NỐI LƯỚI TẠI THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bài báo này phân tích tính khả thi về mặt kinh tế cho một hệ thống điện mặt trời trên mái nối lưới. Dựa vào số liệu bức xạ mặt trời tại 14 phường của thành phố Thủ Dầu Một và biểu đồ phụ tải tiêu biểu của hộ gia đình tại thành phố Thủ Dầu Một để đưa ra mô hình tính toán và phân tích tính khả thi của hệ thống điện mặt trời trên mái nối lưới. Mô hình tính toán sản lượng điện được xây dựng dựa trên phần mêm PV Syst. Từ kết quả tính toán cho thấy đối với các hộ gia đình thông thường lắp đặt hệ thống điện mặt trời từ 3kW – 5 kW, sản lượng điện tương ứng là 4,48 – 7,54MWh/năm là phù hợp. Giá đầu tư cho hệ thống dao động từ 2827-4260USD, thời gian hoàn vốn từ 6-7 năm.

Từ khóa: Điện mặt trời; điện mặt trời trên mái; phần mềm PV Syst; điện mặt trời nối lưới; phân tích kinh tế

link:http://tapchikhcn.udn.vn/volume/167/Phan_tich_kinh_te_cho_he_thong_dien_mat_troi_tren_mai_noi_luoi_tai_thanh_pho_Thu_Dau_Mot__tinh_Binh_Duong-10152/10152


Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

Các công trình đã xuất bản

Tạp chí trong và ngoài nước

  1. Tsai Huan-Liang and Le Phuong Truong,"Self-sufficient energy recycling of light emitter diode/thermoelectric generator module for its active-cooling application," ENERGY CONVERSION AND MANAGEMENT, Vol.110, No.118, United Kingdom, Jun 2016, pp.170-178.(SCI)
  2. PT Le, HL Tsai, TH Lam, “A wireless visualization monitoring, evaluation system for commercial photovoltaic modules solely in MATLAB/Simulink environment Solar Energy, vol 140, pp. 1-11, 2016 (SCI)
  3. PT Le, HA Quoc, N Van Thuyen, HL Tsai, A Method to Estimate the Yield of Photovoltaic Power Plant Solely in MATLAB/Simulink, 2019 International Conference on System Science and Engineering (ICSSE), 201-205.
  4. T Le Phuong, KL Khai, Self-developed Three Wheels Omni-Directional for Autonomous Mobile Robots, Proceedings of the 3rd International Conference on Machine Learning and Soft Computing, 2019
  5. Phuong Truong Le, Van Dung Nguyen, Phuong Long Le, Techno-Economic Analysis of Solar Power Plant Project in Binh Thuan, Vietnam, 2018 4th International Conference on Green Technology and Sustainable Development (GTSD)
  6. Nguyễn Tấn Hòa Lê Phương Trường, Trần Minh Bằng, Lợi Nguyễn Phúc Ân, ECONOMIC ANALYSIS FOR THE ROOFTOP PHOTOVOLTAIC SYSTEM CONNECTED TO GRID AT THU DAU MOT CITY IN BINH DUONG PROVINCE, Tạp Chí Khoa Học và Công Nghệ - Đại Học Đà Nẵng. 2017
  7. Le Phuong Truong and Tsai Huan-Liang,"An Accurate, Low-cost Photovoltaic (PV) Evaluation-on-Chip (EoC) System by Combining MATLAB/Simulink and Microprocessor," The International Conference of Engineering and Applied Science (2016 TICEAS), 新加坡, Singapore, Feb 2016, pp.228-239.
  8. Tsai Huan-Liang and Le Phuong Truong,"A Novel Automatic Evaluation System with a Hardware-in-the-Loop (HIL) Configuration for Commercial Photovoltaic (PV) modules," 2015 Automation, 台北市, R.O.C, Nov 2015, pp.305-310.
  9. Le Phuong Truong, Tran Huu Tuyen and Nguyen Ngoc Phuong, “ A new method for collecting the garbage Non – Using Energy,” in The 2012 international conference on green technology and sustainable (2012), Vietnam.
  10. Nguyễn Ngọc Phương, Phạm Văn toản, Lê Phương Trường, “ Máy láp ráp tự động chi tiết chốt và bánh răng trong băng xóa,” Hội nghị cơ điện tử toàn quốc lần thứ 6, Việt Nam, 2012, trang 78.
  11.  N. V. Quynh, T. Hanh, and L. P. Truong, "Based on Fuzzy and SVPWM to Control Speed of PMSM without Sensor," in Proceedings of International Workshop on Agricultural and Bio-Systems Engineering (IWBE2011), Vietnam, 2011, pp. 281-292.
  12.  N. V. Quynh, T. Hanh, T. T. T. Tam, and L. P. Truong, "Application of FPGA to Control Speed of Permanent Magnet Synchronous Motor without Sensor," in The 5th National Conference on Fundamental and Applied IT Research (Fair2011), Vietnam, 2011, pp. 273-280.
  13. Jing Ming Leeng, Le Phuong Truong, “Economic analysis of Wind – PV hybrid system at 25 locations in Taiwan,” in the 30th conference on Energy (2010), Taiwan.

Các giải thưởng sáng chế


[1] H. L. Tsai, Y. H. Lian, and P. T. Le, “Novel LED lighting with waste heat recycling for its active cooling application”, Cuộc thi sang chế quốc tế lần thứ 19 tại Moscow, Nga, Huy chương bạc.


[2] H. L. Tsai and P. T. Le, “Autonomous active cooling and thermoelectric generation for LED lighting”,「IENA 2015 International Trade Fair」, October 29~November 1 2015, Huy chương đồng.

Bằng sáng chế

[1] H Tsai, PT LE - US Patent 20,170,149,380, “Embedded photovoltaic monitoring device, system and method” 2017.
x
 Sách quốc tế

[1] Le Phuong Truong, Huan-Liang Tsai, Lam Thanh Hien,” Photovoltaic Evaluation System: Design and Implementation of Novel Photovoltaic Evaluation System Using MATLAB/Simulink and Microcontroller Platforms”, LAP LAMBERT Academic Publishing (October 18, 2016)

PDCA công cụ cải tiến chất lượng giáo dục

PDCA là gì?
PDCA là một phương pháp quản lý bốn bước lặp đi lặp lại được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau hay còn gọi là chu trình cải tiến liên tục.
Nội dung các giai đoạn của chu trình được giải thích cụ thể như sau:
Plan (lập kế hoạch): Lập kế hoạch, ở bước này cần phải xác định mục tiêu, nguồn lưc, thời gian thực hiện và phương pháp để đạt được mục tiêu mong muốn.
Do (thực hiện kế hoạch): Thưc hiện kế hoạch, triển khai chi tiết kế hoạch đã đưa ra.
Check (kiểm tra): Dựa vào kết quả báo cáo công việc so sánh với mục tiêu để kiểm tra và đánh giá kết quả.
ACT (hành động): Thông qua các kết quả đánh giá thu được sẽ có những tác động thích hợp để điều chỉnh nhằm bắt đầu lại chu trình mới với số liệu đầu vào mới.
Ứng dụng PDCA trong cải tiến chất lượng giáo dục
Chu trình cải tiến giáo dục PDCA được các cở sở giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng nhiều thập kỷ qua và sự hiệu quả của nó đã được chứng minh.
Một ví dụ cụ thể về việc áp dung quy trình PDCA để cải tiến đề cương chi tiết môn học:
Plan: Lên kế hoạch cải tiến đề cương chi tiết
Do: Tổ chức họp hoặc khảo sát lấy ý kiến của các bên liên quan tiến hành hiệu chỉnh đề cương.
Check: Đánh giá  sự phù hợp của đề cương với chuẩn đầu ra của chương trình
ACT: Từ các kết quả đánh giá tiến hành những hiệu chỉnh phù hợp để bắt đầu cho một chu trình hiệu chỉnh đề cương mới.

Giáo dục 4.0 khai phóng sự sáng tạo

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang phát triển mạnh mẽ, nó đang dần thay đổi môi trường làm việc và thói quen của chúng ta. Giáo dục cũng cần phải thay đổi để đáp ứng được nhu cầu thời đại này. Theo đó, giáo dục cũng trải qua những thay đổi lớn theo từng thời kỳ cụ thể tóm tắt như sau:
Giáo dục 1.0:  Người học muốn học phải đến lớp nghe thuyết giảng tài liệu học tập chủ yếu là sách giáo khoa. Công cụ của người học chủ yếu là giấy và bút và người dạy là sách giáo khoa, phấn và bảng. Đầu ra lúc này chỉ yêu cầu là những công nhân lành nghề (theo J.C.B)
Giáo dục 2.0: Được đánh dấu bằng việc sử dụng máy tính và mạng internet việc giảng dạy có sự tương tác qua lại giữa ngươi học và người dạy. Với sự bùng nổ của mạng internet người học có thể học mọi lúc mọi nơi các tài liệu giảng dạy được số hóa. Người dạy và người học sử dụng nguồn tài liệu khổng lồ trên mạng để bổ sung kiến thức của mình.  
Giáo dục 3.0: được đánh dấu bởi sự hình thành các hệ thống MOOC (Massive Open Online Courses) như Coursera, Udacy, edX, Udemy, Khan Academy, v.v. nên giáo dục được xã hội hóa toàn cầu, không giới hạn đối tượng. Triết lý về phương pháp dạy và học cũng có sự thay đổi lớn từ truyền thống qua phương pháp học tập hỗn hợp và lớp học đảo ngược. Phương pháp học tập hỗn hợp kết hợp hài hòa giữa trực diện và trực tuyến để việc dạy và học được hiệu quả tối đa về thời gian cũng như không gian. Lớp học đảo ngược thay đổi toàn diện qui trình đào tạo truyền thống. Người học kiến thức căn bản ngoài lớp học từ các tài liệu trên hệ thống trực tuyến của trường, các hệ thống kết nối mở MOOC, Wikipedia, Youtube, v.v. Trong lớp thì học cách ứng dụng kiến thức để phản biện, giải quyết vấn đề qua trao đổi với người dạy và với nhóm. Vai trò của thầy cô cũng thay đổi. Thầy cô đứng ở vai trò hướng dẫn và hỗ trợ quá trình học hỏi của học sinh chứ không còn ‘dạy’ kiến thức cho học sinh [https://en.wikipedia.org/wiki/Education_3.0] [Trương Nguyện Thành]

                                                                       Ảnh: Assoc. Prof. Soranit Siltharm

Giáo dục 4.0: là nền giáo dục khai phóng sự sáng tạo
Giáo dục 4.0 là nền giáo dục đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Giáo dục 4.0 được đánh dấu bằng sự thay đổi lớn về mục tiêu đào tạo và triết lý giáo dục chuyển từ truyền đạt kiến thức sang kích hoạt sự sáng tạo của người học. Người dạy lúc này trở thành người kích hoạt, tạo động lực và khai phóng khả năng sáng tạo của người học. Con người sẽ trở nên vô giá trị khi tất cả công việc truyền thống được thay thế bằng robot, các hệ thống tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Do đó, chỉ có sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề là thứ duy nhất con người hơn các hệ thống máy móc và trí tuệ nhân tạo. Để đạt được mục tiêu này thì cần phải mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy và học thay vì sử dụng phương pháp truyền thống.
Theo giáo sư Trương Nguyện Thành thì nền giáo dục của các nước tiên tiến đang ở giai đoạn 3.0 và đang chuẩn bị cơ sở hạ tầng để tiến tới nền giáo dục 4.0 trong khi đó nền giáo dục Việt Nam vẫn ở đâu đó 2.0 cần mạnh dạn thay đổi đế tiến tới 3.0 và từng bước chuẩn bị cơ sở hạ tầng hội nhập Quốc tế với nền giáo dục 4.0 nếu không chúng ta chắc chắn sẽ bị đào thải.
Trong những năm gần đây với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cũng như không ngừng nâng cao trình độ giảng viên Khoa Cơ điện – Điện tử  trường Đại học Lạc Hồng tự tin thay đổi để tiến đến nền giáo dục 3.0 và từng bước hội nhập Quốc tế với nền giáo dục 4.0 ờ tương lai không xa.

Thang đo mức độ nhận thức: Công cụ nền tảng để đạt được mục tiêu giáo dục

Thang đo mức độ nhận thức được phát triển bởi nhà nghiên cứu giáo dục Benjamin Bloom, giáo sư trường đại học Chicago, Mỹ. Bloom đưa ra sáu mức độ nhận thức gọi là thang đo Bloom (Bloom's taxonomy). Thang đo này được sử dụng hơn năm thập kỷ qua và đã chứng minh được sự hiệu quả của nó trong giáo dục.
Theo đó, 6 mức độ nhận thức của Bloom được cụ thể như sau:
Nhớ (knowledge)
Nhớ là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin của người học. Ở cấp độ nhận thức này người học lặp lại được những thông tin được hỏi, ví dụ trình bày được định luật, định lý được học.
Để đánh giá mức độ nhớ của người học, khi đặt câu hỏi kiểm tra người dạy dùng những động từ như là: liệt kê, gọi tên, định danh, giới thiệu/chỉ ra, xác định, nhận biết, nhớ lại, đối chiếu, phân loại, mô tả, định vị, phác thảo, lấy ví dụ, phân biệt quan điểm từ thực tế…
Hiểu (comprehension)
Hiểu là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả).  Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó. Người học phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của họ. 
Với mục đích đánh giá xem sinh viên hiểu bài đến đâu, người dạy có thể dùng các động từ sau trong câu hỏi kiểm tra: diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại, viết lại, lấy ví dụ, tóm tắt, giải thích, diễn dịch, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng…
Áp dụng (application)
Áp dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới). Áp dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo. Tức là Áp dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới. 
Để đánh giá khả năng Áp dụng của sinh viên, thì câu hỏi mà người dạy sử dụng thường có những động từ sau: áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính, vận hành, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, thao tác, dự đoán, bày tỏ…
Phân tích (analysis)
Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. 
Muốn đánh giá khả năng phân tích của người học , khi đặt câu hỏi kiểm tra người dạy có thể sử dụng các động từ:  đối chiếu, so sánh, chỉ ra sự khác biệt, phân loại, phác thảo, liên hệ, phân tích, tổ chức, suy luận, lựa chọn, vẽ biểu đồ, phân biệt…
Tổng hợp (synthesis)
Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/sự vật lớn. Ở mức độ này người học phải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới. 
Các động từ có thể dùng cho câu hỏi kiểm tra với mục đích đánh giá khả năng tổng hợp của người học:thảo luận, lập kế hoạch, so sánh, tạo mới, xây dựng, sắp đặt, sáng tác, tổ chức, thiết kế, giả thiết, hỗ trợ, viết ra, báo cáo, hợp nhất, tuân thủ, phát triển…

Đánh giá (evaluation)
Đánh giá là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp. (Hỗ trợ đánh giá bằng lý do/lập luận). Để sử dụng đúng mức độ này, sinh viên phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm. [1]
Vận dụng thang đo mức độ nhận thức để xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra và đánh giá mức độ đạt được của người học người dạy đối với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là phương pháp để đạt được mục tiêu giáo dục.
Tài liệu tham khảo:
[1] Bloom B. S. (1956). Taxonomy of Educational Objectives, Handbook I: The Cognitive