Tư vấn tổ chức cuộc thi Minirobocon 2019 cho tỉnh Bình Phước

Cuộc thi nhằm kích hoạt sự sáng tạo, đam mê công nghệ của học sinh, sinh viên tỉnh Bình Phước.

Digital Immersion forum

Chia sẻ thuận lợi và thách thức trong quá trình chuyển đối số trong giáo dục tại diễn đàn "Digital Immersion forum" do dự án BUILD IT phối hợp đại học Arizona State University và Đại Học Công nghiệp Hà Nội tổ chức

Cuộc thi Shell Eco_marathon Europe tại London

Cuộc thi Shell eco_marathon tại London là một cuộc thi thiết kế xe tiết kiệm nhiên liệu dành cho học sinh, viên viên lớn nhất thế giới.

Tham gia khóa tập huấn tại Phần Lan

Khóa học phương pháp sư phạm số nằm trong khuôn khổ dự án EMVITET.

Tham gia tập huấn giáo dục 4.0 tại Phần Lan

Phần Lan là một đất nước có nền giáo dục phát triển hàng đầu thế giới.

Tham gia tập huấn Training of Trainers (ToT)

Tôi và cộng sự vinh dự được lựa chọn tham gia Chương trình DIES National Multiplication Training (NMT) tại Berlin Đức; một chương trình đào tạo quốc tế uy tín, quy tụ các nhóm chuyên gia đến từ 12 quốc gia thuộc Châu Phi, Đông Nam Á và Mỹ La-tinh, gồm: Benin, Cameroon, Kenya, Mozambique, Senegal, South Africa, Zambia, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Bolivia và Colombia..

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

PDCA công cụ cải tiến chất lượng giáo dục

PDCA là gì?
PDCA là một phương pháp quản lý bốn bước lặp đi lặp lại được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau hay còn gọi là chu trình cải tiến liên tục.
Nội dung các giai đoạn của chu trình được giải thích cụ thể như sau:
Plan (lập kế hoạch): Lập kế hoạch, ở bước này cần phải xác định mục tiêu, nguồn lưc, thời gian thực hiện và phương pháp để đạt được mục tiêu mong muốn.
Do (thực hiện kế hoạch): Thưc hiện kế hoạch, triển khai chi tiết kế hoạch đã đưa ra.
Check (kiểm tra): Dựa vào kết quả báo cáo công việc so sánh với mục tiêu để kiểm tra và đánh giá kết quả.
ACT (hành động): Thông qua các kết quả đánh giá thu được sẽ có những tác động thích hợp để điều chỉnh nhằm bắt đầu lại chu trình mới với số liệu đầu vào mới.
Ứng dụng PDCA trong cải tiến chất lượng giáo dục
Chu trình cải tiến giáo dục PDCA được các cở sở giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng nhiều thập kỷ qua và sự hiệu quả của nó đã được chứng minh.
Một ví dụ cụ thể về việc áp dung quy trình PDCA để cải tiến đề cương chi tiết môn học:
Plan: Lên kế hoạch cải tiến đề cương chi tiết
Do: Tổ chức họp hoặc khảo sát lấy ý kiến của các bên liên quan tiến hành hiệu chỉnh đề cương.
Check: Đánh giá  sự phù hợp của đề cương với chuẩn đầu ra của chương trình
ACT: Từ các kết quả đánh giá tiến hành những hiệu chỉnh phù hợp để bắt đầu cho một chu trình hiệu chỉnh đề cương mới.

Giáo dục 4.0 khai phóng sự sáng tạo

Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã và đang phát triển mạnh mẽ, nó đang dần thay đổi môi trường làm việc và thói quen của chúng ta. Giáo dục cũng cần phải thay đổi để đáp ứng được nhu cầu thời đại này. Theo đó, giáo dục cũng trải qua những thay đổi lớn theo từng thời kỳ cụ thể tóm tắt như sau:
Giáo dục 1.0:  Người học muốn học phải đến lớp nghe thuyết giảng tài liệu học tập chủ yếu là sách giáo khoa. Công cụ của người học chủ yếu là giấy và bút và người dạy là sách giáo khoa, phấn và bảng. Đầu ra lúc này chỉ yêu cầu là những công nhân lành nghề (theo J.C.B)
Giáo dục 2.0: Được đánh dấu bằng việc sử dụng máy tính và mạng internet việc giảng dạy có sự tương tác qua lại giữa ngươi học và người dạy. Với sự bùng nổ của mạng internet người học có thể học mọi lúc mọi nơi các tài liệu giảng dạy được số hóa. Người dạy và người học sử dụng nguồn tài liệu khổng lồ trên mạng để bổ sung kiến thức của mình.  
Giáo dục 3.0: được đánh dấu bởi sự hình thành các hệ thống MOOC (Massive Open Online Courses) như Coursera, Udacy, edX, Udemy, Khan Academy, v.v. nên giáo dục được xã hội hóa toàn cầu, không giới hạn đối tượng. Triết lý về phương pháp dạy và học cũng có sự thay đổi lớn từ truyền thống qua phương pháp học tập hỗn hợp và lớp học đảo ngược. Phương pháp học tập hỗn hợp kết hợp hài hòa giữa trực diện và trực tuyến để việc dạy và học được hiệu quả tối đa về thời gian cũng như không gian. Lớp học đảo ngược thay đổi toàn diện qui trình đào tạo truyền thống. Người học kiến thức căn bản ngoài lớp học từ các tài liệu trên hệ thống trực tuyến của trường, các hệ thống kết nối mở MOOC, Wikipedia, Youtube, v.v. Trong lớp thì học cách ứng dụng kiến thức để phản biện, giải quyết vấn đề qua trao đổi với người dạy và với nhóm. Vai trò của thầy cô cũng thay đổi. Thầy cô đứng ở vai trò hướng dẫn và hỗ trợ quá trình học hỏi của học sinh chứ không còn ‘dạy’ kiến thức cho học sinh [https://en.wikipedia.org/wiki/Education_3.0] [Trương Nguyện Thành]

                                                                       Ảnh: Assoc. Prof. Soranit Siltharm

Giáo dục 4.0: là nền giáo dục khai phóng sự sáng tạo
Giáo dục 4.0 là nền giáo dục đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Giáo dục 4.0 được đánh dấu bằng sự thay đổi lớn về mục tiêu đào tạo và triết lý giáo dục chuyển từ truyền đạt kiến thức sang kích hoạt sự sáng tạo của người học. Người dạy lúc này trở thành người kích hoạt, tạo động lực và khai phóng khả năng sáng tạo của người học. Con người sẽ trở nên vô giá trị khi tất cả công việc truyền thống được thay thế bằng robot, các hệ thống tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Do đó, chỉ có sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề là thứ duy nhất con người hơn các hệ thống máy móc và trí tuệ nhân tạo. Để đạt được mục tiêu này thì cần phải mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy và học thay vì sử dụng phương pháp truyền thống.
Theo giáo sư Trương Nguyện Thành thì nền giáo dục của các nước tiên tiến đang ở giai đoạn 3.0 và đang chuẩn bị cơ sở hạ tầng để tiến tới nền giáo dục 4.0 trong khi đó nền giáo dục Việt Nam vẫn ở đâu đó 2.0 cần mạnh dạn thay đổi đế tiến tới 3.0 và từng bước chuẩn bị cơ sở hạ tầng hội nhập Quốc tế với nền giáo dục 4.0 nếu không chúng ta chắc chắn sẽ bị đào thải.
Trong những năm gần đây với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng cũng như không ngừng nâng cao trình độ giảng viên Khoa Cơ điện – Điện tử  trường Đại học Lạc Hồng tự tin thay đổi để tiến đến nền giáo dục 3.0 và từng bước hội nhập Quốc tế với nền giáo dục 4.0 ờ tương lai không xa.

Thang đo mức độ nhận thức: Công cụ nền tảng để đạt được mục tiêu giáo dục

Thang đo mức độ nhận thức được phát triển bởi nhà nghiên cứu giáo dục Benjamin Bloom, giáo sư trường đại học Chicago, Mỹ. Bloom đưa ra sáu mức độ nhận thức gọi là thang đo Bloom (Bloom's taxonomy). Thang đo này được sử dụng hơn năm thập kỷ qua và đã chứng minh được sự hiệu quả của nó trong giáo dục.
Theo đó, 6 mức độ nhận thức của Bloom được cụ thể như sau:
Nhớ (knowledge)
Nhớ là khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin của người học. Ở cấp độ nhận thức này người học lặp lại được những thông tin được hỏi, ví dụ trình bày được định luật, định lý được học.
Để đánh giá mức độ nhớ của người học, khi đặt câu hỏi kiểm tra người dạy dùng những động từ như là: liệt kê, gọi tên, định danh, giới thiệu/chỉ ra, xác định, nhận biết, nhớ lại, đối chiếu, phân loại, mô tả, định vị, phác thảo, lấy ví dụ, phân biệt quan điểm từ thực tế…
Hiểu (comprehension)
Hiểu là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả).  Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó. Người học phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của họ. 
Với mục đích đánh giá xem sinh viên hiểu bài đến đâu, người dạy có thể dùng các động từ sau trong câu hỏi kiểm tra: diễn giải, phân biệt, chứng tỏ, hình dung, trình bày lại, viết lại, lấy ví dụ, tóm tắt, giải thích, diễn dịch, mô tả, so sánh, chuyển đổi, ước lượng…
Áp dụng (application)
Áp dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới). Áp dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo. Tức là Áp dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới. 
Để đánh giá khả năng Áp dụng của sinh viên, thì câu hỏi mà người dạy sử dụng thường có những động từ sau: áp dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính, vận hành, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, thao tác, dự đoán, bày tỏ…
Phân tích (analysis)
Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống. Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó. 
Muốn đánh giá khả năng phân tích của người học , khi đặt câu hỏi kiểm tra người dạy có thể sử dụng các động từ:  đối chiếu, so sánh, chỉ ra sự khác biệt, phân loại, phác thảo, liên hệ, phân tích, tổ chức, suy luận, lựa chọn, vẽ biểu đồ, phân biệt…
Tổng hợp (synthesis)
Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/sự vật lớn. Ở mức độ này người học phải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới. 
Các động từ có thể dùng cho câu hỏi kiểm tra với mục đích đánh giá khả năng tổng hợp của người học:thảo luận, lập kế hoạch, so sánh, tạo mới, xây dựng, sắp đặt, sáng tác, tổ chức, thiết kế, giả thiết, hỗ trợ, viết ra, báo cáo, hợp nhất, tuân thủ, phát triển…

Đánh giá (evaluation)
Đánh giá là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp. (Hỗ trợ đánh giá bằng lý do/lập luận). Để sử dụng đúng mức độ này, sinh viên phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm. [1]
Vận dụng thang đo mức độ nhận thức để xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra và đánh giá mức độ đạt được của người học người dạy đối với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là phương pháp để đạt được mục tiêu giáo dục.
Tài liệu tham khảo:
[1] Bloom B. S. (1956). Taxonomy of Educational Objectives, Handbook I: The Cognitive 

Mô hình lớp học đảo ngược kích hoạt sự sáng tạo

Khoa cơ điện – Điện tử là một trong hai khoa của trường Đại học Lạc Hồng tiến đến kiểm định chương trình đào tạo quốc tế theo chuẩn AUN – QA (mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á). Để tiến tới đạt được kiểm định theo chuẩn quốc tế khoa Cơ điện - Điện tử đã không ngừng học hỏi cải tiến từ hệ thống chất lượng bên trong, phương pháp giảng dạy tích cực và sử dụng công cụ hiện đại trong giảng dạy. Các phương pháp giảng dạy hiện đại giải quyết được bài toán thiếu thời gian cho các hoạt động tích cực trên lớp để đáp ứng chuẩn đầu ra ở mức độ nhận thức cao như các hoạt động thảo luận nhóm, tự học hỏi lẫn nhau tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Một trong những phương pháp đó là mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom).
Mô hình lớp học đảo ngược
Mô hình lớp học đảo ngược được xây dựng dựa trên phương thức lấy sinh viên làm trọng tâm, người dạy sẽ định hướng việc tìm hiểu kiến thức (thông qua những giáo trình eLearning đã được người dạy chuẩn bị trước như là xem các video, đọc các nghiên cứu hoặc giáo trình liên quan để trả lời các câu hỏi liên quan đến khối kiến thức mà người học cần được trang bị khi lên lớp ở mức độ nhận thức thấp ở nhà (Theo thang đo mức độ nhận thức của Bloom mức độ nhận thức thấp là nhớ và  hiểu). Khi lên lớp sinh viên được giáo viên tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẽ lẫn nhau, làm các hoạt động ở mức độ nhận thức cao (theo thang đo Bloom mức nhận thức cao là: phân tích, đánh giá, sáng tạo) dưới sự hỗ trợ của giáo viên và các bạn cùng nhóm. Cách học này đòi hỏi sinh viên phải hoạt động trí não như vậy là giáo viên đạt được mục tiêu tổ chức các hoạt động tư duy ở mức cao, bằng cách làm này giáo viên kích hoạt được sự sáng tạo của sinh viên.
Sinh viên sôi nổi thảo luận nhóm với các hoạt động ở mức độ nhận thức cao
Bên cạnh đó, các hoạt động tương tác trên lớp với sinh viên được thực hiện thông qua các công cụ hiện đại chạy trên nền tảng phần cứng điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc máy tính xách tay. Các hoạt động tương tác này tạo nên sự hứng khởi cho sinh viên giảm đi sự nhàm chán trong những tiết học đặc thù của khối kỹ thuật. Hiệu quả của lớp học đảo ngược đã được kiểm chứng ở các nước có nền giáo dục phát triển như là Mỹ, Úc, Singapore….
Tương tác với sinh viên bằng những công cụ hiện đại
Những đổi mới nêu trên sẽ thay đổi cách tiếp cận của giảng viên và sinh viên hình thành nên văn hóa tự học, tự nghiên của sinh viên và đạt được mục tiêu lấy sinh viên làm trọng tâm trong các hoạt động dạy và học của Khoa Cơ Điện – Điện tử. Tuy nhiên mô hình đổi mới này tồn tại một số khó khăn như là đòi hỏi giảng viên là những người giỏi về công nghệ và các phòng học phải đáp ứng được các yêu cầu về công nghệ. Những năm gần đây với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất cũng như không ngừng đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao những khó khăn nêu trên đã được giải quyết

Tập huấn xây dựng sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu chương trình đào tạo của khoa dược

Sáng ngày 28/10/2019, tại Hội trường D503, cơ sở 2 Đại học Lạc Hồng, đã diễn ra buổi tập huấn, trao đổi, thảo luận về việc xây dựng Sứ mạng, Tầm nhìn và Mục tiêu chương trình đào tạo của ngành Dược học – Khoa Dược.
Buổi tập huấn có sự tham dự của TS. Lâm Thành Hiển, Phó Hiệu trưởng nhà trường, TS. Lê Phương Trường, Trưởng phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng, TS. Nguyễn Thanh Lâm, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế.


Theo yêu cầu của tiêu chuẩn AUN-QA, sứ mạng, tầm nhìn của Khoa Dược phải phản ánh được tầm nhìn, sứ mạng của Nhà trường. Do vậy, sứ mạng, tầm nhìn của Khoa Dược phải góp phần hoàn thành sứ mạng của Trường ĐH Lạc Hồng là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học ứng dụng, chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội và tầm nhìn của Trường Đại học Lạc Hồng là đến năm 2030, trở thành trường đại học định hướng ứng dụng hàng đầu tại Việt Nam.
Tại buổi tập huấn, các thầy cô cũng đã góp ý xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo Khoa Dược. Mục tiêu chương trình đào tạo là những gì người học sẽ đạt được sau 2-3 năm kể từ khi tốt nghiệp. Theo đó, mục tiêu chương trình đào tạo phải đáp ứng được sứ mạng, tầm nhìn của Khoa, trường và đáp ứng mục tiêu của Bộ Giáo dục và đào tạo, Chuẩn năng lực dược sĩ của Bộ Y tế.
Các thầy cô tham dự tập huấn đã đóng góp nhiều ý kiến xoay quanh việc xây dựng tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chương trình đào tạo. Kết thúc cuộc họp, Khoa Dược đã ghi nhận và thống nhất các ý kiến đóng góp về tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chương trình đào tạo. Đây là cơ sở thuận lợi để tiến hành các bước tiếp theo trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn AUN-QA.
Theo LHU